Thông tư 66 của Bộ Công Thương: Đổi mới quản lý, đẩy mạnh số hóa, phân cấp và nâng hiệu quả khuyến công quốc gia
Thông tư số 66/2026/TT-BCT tạo khung quản lý mới cho khuyến công quốc gia, với những thay đổi đáng chú ý về số hóa quy trình, phân định trách nhiệm đánh giá, phân cấp điều chỉnh đề án và định hướng nguồn lực vào đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 66/2026/TT-BCT ngày 6/10/2026 quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. Với phạm vi điều chỉnh toàn bộ quá trình từ xây dựng, đánh giá, thẩm định, phê duyệt đến tổ chức thực hiện, tạm ứng, thanh toán và quyết toán, Thông tư đồng thời thay thế 4 thông tư trước đây gồm Thông tư số 46/2012/TT-BCT, 20/2017/TT-BCT, 36/2013/TT-BCT và 17/2018/TT-BCT.

Hoạt động khuyến công hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển sản xuất.
Điểm đáng chú ý là các quy định mới được thiết kế theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp và nâng yêu cầu đối với hiệu quả của từng đề án.
Số hóa xuyên suốt vòng đời đề án
Một trong những điểm mới nổi bật của Thông tư 66/2026/TT-BCT là lần đầu tiên Hệ thống thông tin quản lý khuyến công được xác định rõ trong quy định như công cụ phục vụ toàn bộ quá trình quản lý.
Theo Thông tư, hệ thống này là phần mềm “đồng bộ và số hóa quy trình quản lý đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia từ khâu đề xuất, đánh giá, xét chọn, giao kế hoạch và triển khai thực hiện; tạm ứng, thanh toán; tổng hợp dữ liệu; báo cáo thống kê phục vụ quản lý nhà nước về khuyến công”.
Cùng với đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan phải cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, dữ liệu, tài liệu điện tử về đề án, nhiệm vụ, kế hoạch khuyến công trên hệ thống và chịu trách nhiệm về nội dung cập nhật.

Hệ thống thông tin quản lý khuyến công góp phần số hóa quy trình quản lý.
Đáng chú ý, dữ liệu trên hệ thống không chỉ phục vụ lưu trữ mà được sử dụng trong xây dựng, đánh giá, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện, điều chỉnh, theo dõi, kiểm tra; đồng thời phục vụ tạm ứng, thanh toán, quyết toán, tổng hợp và báo cáo về khuyến công quốc gia.
Quy định này tạo sự liên thông giữa các khâu quản lý, đồng thời đặt yêu cầu cao hơn về trách nhiệm cập nhật và quản lý dữ liệu của các cơ quan, đơn vị thực hiện.
Trong quá trình triển khai, Sở Công Thương có trách nhiệm cập nhật, quản lý và chịu trách nhiệm về thông tin, dữ liệu, tài liệu điện tử thuộc phạm vi quản lý; khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, theo dõi, kiểm tra và tổng hợp kết quả thực hiện. Thông tư cũng quy định hạn chế yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại những nội dung đã được cập nhật và có giá trị sử dụng trên hệ thống, trừ trường hợp pháp luật quy định khác hoặc cần xác minh tính chính xác.
Không đánh giá trùng lặp, tăng thẩm quyền cho địa phương
Một thay đổi đáng chú ý khác nằm ở cách thức đánh giá đề án. Thông tư 66 phân định rõ trách nhiệm giữa cấp cơ sở và cấp Bộ, theo nguyên tắc không đánh giá lại những nội dung đã được thực hiện ở cấp dưới.
Đối với đề án thuộc phạm vi Sở Công Thương tổng hợp, đề xuất, Sở Công Thương thực hiện đánh giá các nội dung về tính phù hợp, sự cần thiết, mục tiêu, kết quả dự kiến, tiến độ, hiệu quả, tính khả thi, năng lực của đơn vị thực hiện và một số nội dung liên quan.
Sau khi đã được đánh giá cấp cơ sở, Cục Công nghiệp tập trung đánh giá mức độ phù hợp của đề án với Chương trình khuyến công quốc gia, tính liên vùng, liên tỉnh, mức độ ưu tiên, khả năng cân đối kinh phí và sự phù hợp trong tổng thể kế hoạch. Thông tư quy định Cục Công nghiệp không thực hiện đánh giá lại các nội dung thuộc phạm vi cấp cơ sở, trừ trường hợp cần thiết theo yêu cầu quản lý hoặc phát hiện thông tin cần kiểm tra, xác minh.

Hỗ trợ máy móc, thiết bị hiện đại nâng cao hiệu quả sản xuất.
Cách phân định này được Thông tư đặt trên nguyên tắc “bảo đảm phân định phạm vi đánh giá giữa cấp cơ sở và cấp Bộ, không đánh giá trùng lặp”. Đây là điểm mới đáng chú ý, bởi trách nhiệm của từng cấp được xác định rõ hơn, đồng thời tránh việc một đề án phải trải qua nhiều vòng đánh giá cùng một nội dung.
Cùng với phân định trách nhiệm, thẩm quyền điều chỉnh đề án cũng được phân cấp cụ thể. Sở Công Thương được quyết định thay đổi địa điểm thực hiện trong phạm vi tỉnh, đơn vị phối hợp, đối tượng thụ hưởng, tiến độ trong năm ngân sách, thông số kỹ thuật của máy móc, thiết bị tương đương hoặc tốt hơn và cơ cấu chi tiết dự toán trong phạm vi tổng kinh phí hỗ trợ, định mức được áp dụng.
Trong khi đó, Cục Công nghiệp quyết định việc điều chỉnh kinh phí hỗ trợ giữa các đề án của cùng một đơn vị thực hiện, giảm tổng mức kinh phí hỗ trợ và một số nội dung điều chỉnh khác. Bộ Công Thương quyết định những nội dung lớn hơn như tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ, thay đổi nội dung hoạt động khuyến công, bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án, nhiệm vụ và điều chỉnh kinh phí giữa các đơn vị thực hiện trong năm ngân sách.
Việc phân cấp này đi kèm yêu cầu các nội dung điều chỉnh phải được cập nhật trên Hệ thống thông tin quản lý khuyến công.
Hướng nguồn lực vào công nghệ, số hóa và chuyển đổi xanh
Nếu những quy định về số hóa và phân cấp tạo thay đổi trong phương thức quản lý, thì định hướng lựa chọn và đánh giá đề án lại cho thấy sự thay đổi về chất lượng hỗ trợ.
Thông tư yêu cầu việc lập đề án phải phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Các đề án cũng được khuyến khích gắn với sản phẩm, nhóm sản phẩm, chuỗi ngành hàng có tiềm năng, lợi thế của quốc gia, vùng, địa phương; thúc đẩy liên kết sản xuất, kinh doanh và tập trung nguồn lực vào các khâu, công đoạn tạo giá trị, hiệu quả và khả năng lan tỏa.
Đáng chú ý, đối với đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, Thông tư quy định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được hỗ trợ phải chưa qua sử dụng, mới 100%, có hồ sơ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng và đáp ứng quy định về tiêu chuẩn, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Khuyến công khuyến khích máy móc, thiết bị có khả năng tự động hóa, sản xuất theo hướng xanh, hiện đại.
Đồng thời, Thông tư khuyến khích máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ có khả năng tự động hóa, số hóa, kết nối dữ liệu, giám sát quá trình sản xuất hoặc hỗ trợ chuyển đổi xanh phù hợp với nhu cầu và điều kiện của cơ sở.
Một điểm đáng chú ý khác là một đối tượng thụ hưởng có thể được xem xét hỗ trợ nhiều nội dung hoạt động khuyến công trong cùng năm ngân sách, nhưng không được hỗ trợ trùng cùng một nội dung chi đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ từ chương trình, đề án, nhiệm vụ khác.
Ở khâu tài chính, Thông tư quy định đối với đề án, nhiệm vụ thực hiện trong một năm ngân sách, sau khi hợp đồng có hiệu lực, đơn vị thực hiện được tạm ứng tối đa 50% kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ theo hợp đồng. Việc thanh toán kinh phí được thực hiện trên cơ sở khối lượng, nhiệm vụ hoàn thành đã được nghiệm thu, xác nhận.
Như vậy, Thông tư 66/2026/TT-BCT đã đồng thời đổi mới cách quản lý, cách đánh giá và định hướng hỗ trợ của chương trình khuyến công quốc gia. Từ việc số hóa quy trình, phân định rõ trách nhiệm các cấp, tăng thẩm quyền điều chỉnh cho Sở Công Thương đến yêu cầu cao hơn đối với công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hiệu quả của đề án, các quy định mới tạo khuôn khổ thống nhất cho tổ chức thực hiện khuyến công trong giai đoạn mới.
Đối với các đề án, nhiệm vụ đã được phê duyệt kế hoạch, giao nhiệm vụ hoặc ký hợp đồng trước khi Thông tư có hiệu lực, việc thực hiện, tạm ứng, thanh toán và quyết toán tiếp tục theo quyết định phê duyệt, hợp đồng đã ký và quy định pháp luật tại thời điểm được phê duyệt. Đối với đề án đề xuất kế hoạch khuyến công năm 2027 đã được tiếp nhận nhưng chưa phê duyệt, Thông tư có quy định chuyển tiếp để bảo đảm quá trình xây dựng kế hoạch không bị gián đoạn.
Xem Thông tư 66/2026/TT-BCT tại đây.
