Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư 40).

Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, thay thế Thông tư số 32/2015/TT-NHNN và Thông tư số 13/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 32.

Thông tư 40 gồm 4 chương, 16 điều và 3 phụ lục, quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn; hạn chế, giới hạn cho vay; tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu… của quỹ tín dụng nhân dân.

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11. Ảnh minh họa.

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11. Ảnh minh họa.

Theo Điều 8, quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%. Việc xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được quy định cụ thể tại Thông tư.

Khi xác định tổng tài sản “Có” rủi ro để tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Thông tư phân loại các tài sản “Có” theo bốn mức hệ số rủi ro gồm 0%, 20%, 50% và 100%. Chẳng hạn, nhóm hệ số rủi ro 0% gồm tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi tại ngân hàng hợp tác xã và một số khoản cho vay có bảo đảm theo quy định; dư nợ cho vay được bảo đảm toàn bộ bằng nhà ở, quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất của bên vay thuộc nhóm hệ số rủi ro 50%.

Về thanh khoản, Điều 9 Thông tư 40 quy định tỷ lệ khả năng chi trả. Đáng chú ý, quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ khả năng chi trả trong ngày làm việc tiếp theo và trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo tối thiểu bằng 100%. Việc xác định các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tài sản “Nợ” phải thanh toán được thực hiện theo Phụ lục III của Thông tư.

Phụ lục III quy định cụ thể tỷ lệ xác định đối với từng khoản mục. Trong nhóm tài sản “Có”, tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và một số khoản tiền gửi tại ngân hàng hợp tác xã được xác định theo tỷ lệ 100%; các khoản dư nợ đến hạn của khoản cho vay, tùy trường hợp, được áp dụng các tỷ lệ 80% hoặc 75%; dư nợ đến hạn của các khoản nợ khác phải thu áp dụng tỷ lệ 70%.

Ở phía tài sản “Nợ”, tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng đến hạn thanh toán được xác định 100%, trong khi tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng được xác định theo tỷ lệ 15%.

Một chỉ tiêu khác liên quan trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của quỹ tín dụng nhân dân là tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu.

Điều 11 quy định quỹ tín dụng nhân dân phải duy trì tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu không vượt quá 20 lần.

Theo khoản 3 Điều 11 Thông tư 40, tổng mức nhận tiền gửi được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản sau đây: tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân bằng đồng Việt Nam.

“Vốn chủ sở hữu được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu” - khoản 4 Điều 11 Thông tư 40 nêu.

Tổng mức nhận tiền gửi được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân bằng đồng Việt Nam. Vốn chủ sở hữu cũng được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ.

Đối với hoạt động cấp tín dụng, Điều 12 yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân căn cứ vốn tự có tại cuối ngày làm việc gần nhất để xác định hạn chế cho vay đối với tổ chức, cá nhân theo Điều 135 và giới hạn cho vay đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan theo Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng.

Hội đồng quản trị thông qua các khoản cho vay đối với người thẩm định, người xét duyệt cho vay tại quỹ tín dụng nhân dân có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc mức thấp hơn theo quy định nội bộ của quỹ tín dụng nhân dân.

Đối với các khoản cho vay thuộc trường hợp hạn chế cho vay theo quy định được viện dẫn tại Thông tư, quỹ tín dụng nhân dân phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực và công khai trước Đại hội thành viên đối với khoản cho vay phát sinh đến thời điểm lấy số liệu để họp Đại hội thành viên…

Thông tư còn xác định trường hợp quỹ tín dụng nhân dân có nguy cơ mất khả năng chi trả tại Điều 13. Theo đó, khi thiếu hụt tài sản “Có” có thể thanh toán ngay ở mức 20% trở lên tại thời điểm tính toán tỷ lệ khả năng chi trả so với tài sản “Có” có thể thanh toán ngay tối thiểu để tuân thủ tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định tại Thông tư này trong thời gian 30 ngày liên tục.

Quỹ tín dụng nhân dân mất khả năng chi trả khi không thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

“Khi mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc trường hợp quỹ tín dụng nhân dân tự đánh giá không có khả năng chi trả, quỹ tín dụng nhân dân phải kịp thời báo cáo với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực và thông báo cho Ngân hàng Hợp tác xã chi nhánh về thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp đã áp dụng, các biện pháp dự kiến áp dụng để khắc phục và các đề xuất, kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực (nếu có)” - khoản 3 Điều 13 Thông tư 40 nêu rõ./.

Ánh Tuyết

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/thong-tu-moi-quy-dinh-loat-nguong-an-toan-voi-quy-tin-dung-nhan-dan-tu-ngay-1-11-202259.html