Thu hồi đất 2026: Những trường hợp không được bố trí đất ở hoặc nhà tái định cư
Không phải mọi trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất đều được bố trí đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Theo Luật Đất đai năm 2024, quyền được tái định cư phụ thuộc vào điều kiện bồi thường, tình trạng chỗ ở, nhu cầu thực tế và các quy định cụ thể đối với từng loại đất.
Người bị thu hồi đất nhưng không phải di chuyển chỗ ở
Đây là trường hợp đầu tiên cần lưu ý khi xác định quyền được bố trí tái định cư.
Theo Điều 111 Luật Đất đai năm 2024, chính sách tái định cư tập trung vào việc bảo đảm nơi ở mới cho những người thuộc diện phải di chuyển chỗ ở do Nhà nước thu hồi đất. Vì vậy, nếu người dân chỉ bị thu hồi một phần diện tích đất nhưng phần nhà ở, đất ở còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống thì không đương nhiên được bố trí thêm một suất tái định cư.
Chẳng hạn, một hộ gia đình có nhà ở trên thửa đất bị thu hồi một phần để mở rộng đường giao thông. Sau khi thu hồi, diện tích còn lại vẫn bảo đảm điều kiện sử dụng làm nơi ở, gia đình không phải chuyển đi nơi khác. Trong trường hợp này, việc bị thu hồi đất không đồng nghĩa với việc hộ gia đình được bố trí đất hoặc nhà ở tái định cư.
Tuy nhiên, việc xác định có phải di chuyển chỗ ở hay không cần căn cứ vào hiện trạng thực tế, diện tích còn lại và các điều kiện pháp luật liên quan, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi.

Người phải di chuyển chỗ ở nhưng đã có nơi ở khác theo quy định
Một trường hợp khác không thuộc diện được áp dụng chính sách hỗ trợ tái định cư theo khoản 5 Điều 111 là hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gắn liền với nhà ở, phải di chuyển chỗ ở nhưng vẫn có chỗ ở khác trong phạm vi địa bàn luật định.
Cụ thể, khoản 5 Điều 111 quy định: hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gắn liền với nhà ở, phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở chỉ được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở khi không có chỗ ở nào khác tại địa bàn nơi có đất thu hồi.
Phạm vi địa bàn được xác định theo khu vực nông thôn hoặc khu vực đô thị tương ứng với nơi có đất bị thu hồi. Do đó, nếu người bị thu hồi đất đã có nơi ở khác đáp ứng điều kiện theo quy định thì không thuộc đối tượng được áp dụng cơ chế hỗ trợ tại khoản 5 này.
Cần lưu ý, việc có một bất động sản khác không nên được hiểu một cách máy móc là đương nhiên mất quyền tái định cư trong mọi trường hợp. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đúng loại đối tượng, điều kiện pháp lý và phạm vi địa bàn mà luật quy định.
Người bị thu hồi đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở nhưng không đáp ứng đủ điều kiện
Không phải cứ bị thu hồi đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp là người dân sẽ được chuyển sang nhận đất ở tái định cư.
Khoản 6 Điều 111 Luật Đất đai năm 2024 quy định hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp không phải đất ở được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: đủ điều kiện được bồi thường về đất theo Điều 95, có nhu cầu nhận bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở và địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở.
Như vậy, nếu không đáp ứng điều kiện bồi thường về đất, không có nhu cầu nhận đất ở hoặc nhà ở, hoặc địa phương không có quỹ đất, quỹ nhà đáp ứng điều kiện bố trí thì người bị thu hồi đất không thuộc trường hợp được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư theo khoản 6.
Đây là điểm người dân cần đặc biệt quan tâm, bởi quyền được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở trong trường hợp này không tự động phát sinh chỉ từ việc Nhà nước thu hồi đất sản xuất.

Người không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và không thuộc diện được hỗ trợ chỗ ở mới
Một vấn đề dễ gây nhầm lẫn là người không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở có đồng nghĩa với việc chắc chắn không được tái định cư hay không.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 111 Luật Đất đai năm 2024, trong trường hợp đất bị thu hồi gắn liền với nhà ở, người dân phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện bồi thường về đất ở vẫn có thể được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở.
Tuy nhiên, chính sách này chỉ áp dụng khi người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi địa bàn được quy định.
Do đó, nếu người dân không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, đồng thời không đáp ứng điều kiện về việc phải di chuyển chỗ ở hoặc vẫn có nơi ở khác theo quy định thì không thuộc diện được hỗ trợ theo cơ chế này.
Điều đó cho thấy, pháp luật không chỉ xem xét quyền sử dụng đất mà còn chú trọng đến hoàn cảnh chỗ ở thực tế của người bị thu hồi đất để xác định chính sách hỗ trợ phù hợp.
Người không đáp ứng điều kiện bồi thường về đất theo quy định pháp luật
Điều kiện được bồi thường về đất là căn cứ quan trọng để xác định quyền lợi của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2024, việc bồi thường phải căn cứ vào loại đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất cũng như những điều kiện pháp lý liên quan.
Đối với trường hợp bị thu hồi đất ở, nếu không đáp ứng điều kiện được bồi thường về đất ở thì người dân không đương nhiên được nhận đất ở hoặc nhà ở tái định cư theo cơ chế bồi thường thông thường tại khoản 4 Điều 111.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa quyền được bồi thường và quyền được hỗ trợ tái định cư. Một số trường hợp không đủ điều kiện bồi thường đất ở nhưng phải di chuyển chỗ ở, không còn nơi ở nào khác vẫn có thể được xem xét hỗ trợ theo khoản 5 Điều 111.
Vì vậy, người dân cần kiểm tra kỹ căn cứ xác định điều kiện bồi thường trước khi kết luận mình có hay không có quyền được bố trí nơi ở mới.
