Thứ trưởng Bộ Tư pháp: Nếu đã có dữ liệu, không được yêu cầu người dân cung cấp nhiều loại giấy tờ
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết, Luật Hộ tịch mới quy định, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu đã có để giải quyết thủ tục hành chính, thay vì yêu cầu người dân cung cấp nhiều loại giấy tờ như trước đây.
Người dân chỉ cung cấp thông tin một lần
Chiều 13/5, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, trong đó có Luật Hộ tịch. Luật Hộ tịch mới gồm 4 chương, 30 điều, có hiệu lực thi hành từ 1/3/2027.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh. (Ảnh: Như Ý)
Tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết, Luật Hộ tịch mới phân quyền triệt để, gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thẩm quyền đăng ký tất cả sự kiện, thông tin hộ tịch trong nước được giao cho UBND cấp xã.
"Người dân được quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch tại bất kỳ UBND cấp xã nào, mà không phụ thuộc nơi cư trú, địa giới hành chính", bà Oanh nêu rõ.
Cơ sở dữ liệu hộ tịch được xác định là cơ sở dữ liệu quốc gia, được xây dựng tập trung, thống nhất, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Luật cũng quy định đẩy mạnh số hóa dữ liệu hộ tịch và xác lập giá trị pháp lý của dữ liệu hộ tịch điện tử, xác định nguyên tắc "người dân chỉ cung cấp thông tin một lần".
Lãnh đạo Bộ Tư pháp nhấn mạnh, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu đã có để giải quyết thủ tục hành chính, thay vì yêu cầu người dân cung cấp nhiều loại giấy tờ như trước đây.
Điểm mới nữa là luật đã chuyển từ phương thức "quản lý thụ động" sang "phục vụ chủ động", với các quy định về đăng ký khai sinh, khai tử chủ động trên cơ sở kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử.
Luật cũng tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền nhân thân của cá nhân, giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Theo đó, nhiều quy định mới đã được bổ sung như đăng ký hộ tịch đối với người gốc Việt Nam chưa xác định quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã được giải quyết ở nước ngoài đối với trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.
Quy định về giám sát việc giám hộ cũng được bổ sung, cùng với hoàn thiện quy định về thay đổi thông tin hộ tịch...
Để bảo đảm việc triển khai Luật Hộ tịch được thống nhất, không làm gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh, Luật đã quy định các nội dung chuyển tiếp phù hợp.
Cụ thể, các giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ trước ngày luật có hiệu lực thì tiếp tục có giá trị sử dụng. Các trường hợp đã tiếp nhận hồ sơ nhưng chưa giải quyết xong thì được tiếp tục thực hiện theo quy định.
Luật giao Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chủ động chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về thể chế, hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực và kinh phí nhằm bảo đảm các quy định mới của luật được triển khai đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Phân định rõ ràng phạm vi thông tin người dân được tiếp cận
Về Luật Tiếp cận thông tin, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết luật mới có 4 chương, 31 điều và có hiệu lực thi hành từ 1/9/2026.
Trong đó, luật đã phân định rõ ràng phạm vi thông tin người dân được tiếp cận, thông tin người dân không được tiếp cận và thông tin người dân được tiếp cận có điều kiện.
Về thông tin không được tiếp cận theo quy định của luật là thông tin thuộc bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước. Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của luật này.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; trừ trường hợp được người đó đồng ý hoặc trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý.
Bên cạnh đó, thông tin công dân không được tiếp cận là nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của người khác.











