Thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 5 nhóm chính sách lớn tại dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) trong đó có tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch và phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia; tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh...

Hội thảo ham vấn chính sách của dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Ảnh: LH
Ngày 11/3/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách của dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Việc xây dựng chính sách của dự án Luật có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đồng thời tạo nền tảng thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn mới.
ĐẠI DƯƠNG LÀ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CỦA KINH TẾ
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết trong những năm gần đây, thế giới đang chứng kiến những biến chuyển sâu sắc liên quan đến không gian đại dương.
Theo ông Điệp, đại dương ngày càng được nhìn nhận là động lực tăng trưởng mới của kinh tế toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế biển truyền thống như vận tải biển, thủy sản, du lịch, dầu khí, cùng với các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và công nghệ sinh học biển.
Cùng với cơ hội phát triển, đại dương cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển, suy thoái đa dạng sinh học và rác thải nhựa đại dương. Trước bối cảnh đó, cộng đồng quốc tế đang thúc đẩy mạnh mẽ các cơ chế quản trị đại dương nhằm bảo đảm khai thác bền vững tài nguyên biển.

Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp: Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km2 với hệ sinh thái biển phong phú và tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển. Ảnh: T.Giang
Đối với Việt Nam, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định “biển và hải đảo có vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế".
"Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km2 với hệ sinh thái biển phong phú và tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển”, ông Điệp nêu rõ.
Tuy nhiên, không gian biển nước ta cũng đang chịu sức ép ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái và xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, năm 2015, Quốc hội thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Sau gần 10 năm thực hiện, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và sự thay đổi của hệ thống pháp luật, một số quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn.
Trong khi đó, "nhiều lĩnh vực kinh tế biển mới đang phát triển nhanh như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh; các vấn đề môi trường mới nổi như rác thải nhựa đại dương, suy thoái hệ sinh thái ven biển, tác động của biến đổi khí hậu… cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học – công nghệ và dữ liệu", Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh.
THU HÚT NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ, THÚC ĐẨY XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc xây dựng chính sách của dự án Luật được thực hiện trên cơ sở quán triệt các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam; Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới;
Cùng với đó là Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ngày 06/01/2026, cũng như các định hướng lớn của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
Trên cơ sở tổng kết thi hành Luật, rà soát pháp luật hiện hành và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng hồ sơ chính sách của dự án Luật với 5 nhóm chính sách lớn.

Hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch, gắn với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Ảnh minh họa
Cụ thể gồm các chính sách: tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch; hoàn thiện chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ và các hệ sinh thái nhạy cảm; tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, nhất là rác thải nhựa; thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý biển; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi Luật và 5 nhóm chính sách lớn được Bộ đề xuất, các đại biểu cho rằng các chính sách đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Các ý kiến góp ý tập trung góp ý trực tiếp vào hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch, gắn với Quy hoạch không gian biển quốc gia; tăng cường điều phối và kiểm soát xung đột trong khai thác, sử dụng biển. Cùng với đó, tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ và các hệ sinh thái biển; nâng cao khả năng chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Các đại biểu cũng góp ý việc hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, nhất là ô nhiễm từ đất liền, rác thải nhựa đại dương và các nguồn gây ô nhiễm mới. Vấn đề xây dựng hệ thống dữ liệu biển đồng bộ phục vụ công tác điều tra, giám sát và quản lý biển cũng được chuyên gia quan tâm phân tích.
Nhiều ý kiến cũng góp ý về hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh và hiện đại; tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển mới phát triển, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh trên biển.
Theo TS Phạm Ngọc Sơn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chính sách thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng cần tiếp tục rà soát để tránh chồng chéo với các luật khác; đồng thời đa dạng hóa các hình thức giao khu vực biển để thu hút nguồn lực đầu tư và thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu về biển và hải đảo.
Về phía doanh nghiệp, đại diện Tập đoàn Công nghiệp- Năng lượng Quốc gia Việt Nam cho biết nhiều khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận diện trong các nhóm chính sách.
Doanh nghiệp này góp ý cần nghiên cứu cơ chế quản lý hài hòa đối với các hoạt động cùng tồn tại trên một khu vực biển nhằm bảo đảm an toàn, đặc biệt đối với hoạt động dầu khí; đồng thời hoàn thiện quy định về bảo vệ môi trường biển phù hợp đặc thù hoạt động trên biển.
Từ góc độ địa phương có biển, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.Hải Phòng đề nghị làm rõ ranh giới hành chính trên biển giữa các địa phương, xác định rõ khu vực áp dụng pháp luật về giao khu vực biển và khu vực áp dụng pháp luật đất đai đối với các công trình như cầu, cảng;…












