Thúc đẩy sự phát triển vựa nông sản Đồng bằng sông Cửu Long

Có một thực tế đang xảy ra với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đó là ở vựa nông sản của cả nước, nguồn lực nghiên cứu khoa học công nghệ còn mỏng.

Tại Hội thảo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phục vụ tăng trưởng kinh tế 2 con số vùng ĐBSCL do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp UBND TP Cần Thơ vừa tổ chức, số liệu cho thấy ĐBSCL đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, khoảng 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng, hơn 70% sản lượng trái cây, hơn 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng khoảng 7,24%, chiếm 12,2% GDP quốc gia. Thế nhưng, phía sau quy mô sản xuất lớn là khoảng cách đáng kể về nguồn lực công nghệ.

Một báo cáo cho thấy mật độ nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) toàn thời gian của vùng chỉ khoảng 2,56 người/10.000 dân, bằng 35,6% mức bình quân cả nước. Toàn vùng có trên 3.200 DN công nghệ số, tương đương khoảng 0,18 DN/1.000 dân, trong khi mức bình quân cả nước là 0,7 DN/1.000 dân. Trong nguồn lực R&D, thường tập trung tại Cần Thơ; năng lực đổi mới sáng tạo giữa các tỉnh, thành trong vùng chưa đồng đều.

Đây là vấn đề rất đáng trăn trở, vì theo nhiều nhận định, dư địa tăng trưởng của ĐBSCL hiện không nằm ở khâu mở rộng sản lượng; mà ở nâng cao chất lượng giống, chế biến sâu, phát triển logistics, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, khai thác phụ phẩm.

Với lúa gạo, cần tập trung vào công nghệ giống, công nghệ sinh học, canh tác chính xác, dữ liệu đồng ruộng, quản lý đầu vào; nghiên cứu về giảm phát thải, đo lường carbon, chế biến sâu để có thể tạo thêm giá trị trên cùng một đơn vị sản phẩm. Với thủy sản, nhu cầu công nghệ trải từ con giống, thức ăn, quan trắc môi trường đến tự động hóa, cảnh báo dịch bệnh, chế biến sâu. Vùng cũng cần phát triển các công nghệ phù hợp với lợi thế nông nghiệp, thủy sản và kinh tế biển, đồng thời chú trọng công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, chế biến sâu, năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn; để nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.

Một yếu tố khác rất quan trọng với ĐBSCL, là nâng giá trị nông sản không thể tách rời nguồn nước và một số vấn đề liên quan. Tính chất liên tỉnh, liên vùng của hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún và sạt lở đòi hỏi dữ liệu và công cụ dự báo dùng chung; cần kết nối dữ liệu về nước, đất, khí hậu, sản xuất, dịch bệnh, thị trường, logistics. Khi dữ liệu đủ tin cậy, được cập nhật và liên thông, các địa phương sẽ có cơ sở khai thác hiệu quả trí tuệ nhân tạo, mô hình số và công cụ hỗ trợ ra quyết định.

Thực tế trên cho thấy, cần sớm có một đề án đặc thù có cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển toàn vùng ĐBSCL, với những vấn đề ưu tiên của vùng; công nghệ, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực; mô hình tổ chức, cơ chế huy động, sử dụng chung nguồn lực; mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả kỳ vọng; để từ đó lựa chọn những nhiệm vụ công nghệ gắn với nhu cầu thực tế của DN và các địa phương, góp phần quan trọng chuyển từ khai thác tài nguyên sang nâng năng suất và giá trị gia tăng.

Huỳnh Ngọc Hiếu

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/thuc-day-su-phat-trien-vua-nong-san-dong-bang-song-cuu-long.html