Thúc đẩy tăng trưởng xanh - lựa chọn của tương lai

Mô hình tăng trưởng truyền thống dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và năng lượng hóa thạch đang dần chạm ngưỡng. Trong khi đó, 'luật chơi' toàn cầu đã thay đổi nhanh chóng theo hướng xanh hóa và phát thải thấp. Đây là thách thức lớn đòi hỏi Việt Nam nhanh chóng tận dụng nguồn lực và nhân lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững cho giai đoạn 10 năm tới (2026 - 2035).

Tận dụng nguồn lực và nhân lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững cho giai đoạn 10 năm tới

Tận dụng nguồn lực và nhân lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững cho giai đoạn 10 năm tới

Thước đo mới của năng lực cạnh tranh

Theo các chuyên gia, giai đoạn 2026 - 2035 được coi là “cửa sổ cơ hội” mang tính quyết định. Nếu tận dụng tốt, Việt Nam có thể nâng cấp nền kinh tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và thậm chí vươn lên dẫn đầu trong một số lĩnh vực xanh. Ngược lại, nếu chậm trễ, nguy cơ mất thị trường xuất khẩu, tụt hậu công nghệ và bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng là hoàn toàn hiện hữu. Tăng trưởng xanh, vì thế, không chỉ là một chiến lược phát triển, mà là bài toán lựa chọn tương lai.

Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường được hỗ trợ toàn diện về đất đai, hạ tầng, vốn và thuế như khuyến khích các tổ chức tín dụng ưu tiên tài trợ, cho vay với điều kiện ưu đãi đối với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh; Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn triển khai các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam. Yêu cầu này được lồng ghép vào tiêu chí lựa chọn nhà thầu, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đẩy mạnh mua sắm xanh, góp phần mở rộng thị trường cho các sản phẩm thân thiện môi trường.

Những chính sách hỗ trợ này đang đang tạo ra thay đổi mạnh mẽ trong tư duy sản xuất của doanh nghiệp Việt. Đại diện Công ty CP Ameii Việt Nam cho biết, muốn tiếp cận thị trường cao cấp, doanh nghiệp phải xây dựng vùng nguyên liệu chuẩn hóa, đầu tư công nghệ chế biến sâu và vận hành theo đơn hàng cụ thể. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu như cà-rốt, chuối, sả, vải hay rau củ chế biến đều phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt từ vùng nguyên liệu đến khâu đóng gói. Kích cỡ, màu sắc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, nhật ký canh tác và mã QR truy xuất nguồn gốc đều là yêu cầu bắt buộc.

Trong khi đó, Vinasoy - một doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn cũng theo đuổi tiêu chí, phát triển xanh không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Ông Võ Văn Huy Hoàng, Giám đốc khối chiến lược và chuyển đổi số của Vinasoy cho biết, bản thân cây đậu nành đã là một “tài sản sinh thái” nhờ khả năng cải tạo đất và giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học. Với hệ thống nhà máy trải dài ba miền, Vinasoy triển khai đồng bộ các giải pháp từ tối ưu tiêu thụ nước đến tái cấu trúc logistics. Đáng chú ý, việc loại bỏ tình trạng “xe chạy rỗng” không chỉ giúp giảm phát thải mà còn trực tiếp cải thiện biên lợi nhuận trong bối cảnh chi phí gia tăng.

Tái cấu trúc cách thức tạo ra giá trị xanh

Dưới góc nhìn chuyên gia, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam phân tích, tăng trưởng xanh thực chất là quá trình tái cấu trúc cách thức tạo ra giá trị của nền kinh tế, chuyển từ mô hình dựa vào khai thác tài nguyên sang dựa trên hiệu quả, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cần phát triển đồng bộ 4 kênh tăng trưởng xanh gồm: đầu tư vào năng lượng và hạ tầng, nâng cấp công nghiệp, mở rộng tài chính xanh và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế. Điểm chung của các kênh này là đều phải đặt trên nền tảng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, qua đó tạo động lực nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.

Tuy nhiên, từ chính sách đến thực thi vẫn còn khoảng cách đáng kể. Ông Nguyễn Trung Thắng thẳng thắn nhìn nhận, quá trình triển khai các cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều vướng mắc. Hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực như mua sắm công xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh hay cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân. Nguồn lực tài chính hỗ trợ cho bảo vệ môi trường và các dự án xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu. Ở phía doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực hấp thụ còn yếu do thiếu nhân lực chuyên môn về ESG, MRV, hạn chế về quy mô vốn, năng lực quản trị cũng như hiểu biết về các tiêu chí phân loại xanh. Ngoài ra, một doanh nghiệp phản ánh hệ thống dữ liệu phục vụ xác nhận dự án xanh, đo lường phát thải và giám sát kết quả còn thiếu đồng bộ. Điều này khiến doanh nghiệp mất thêm chi phí tuân thủ, đồng thời làm gia tăng rủi ro “giả xanh”, khi một số đơn vị quảng bá xanh nhưng không có thay đổi thực chất.

Để thúc đẩy tăng trưởng xanh một cách thực chất, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn cho rằng, cần hình thành hệ sinh thái đồng bộ với sự tham gia của nhiều chủ thể, từ đó tạo ra thay đổi toàn diện. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò thiết lập thể chế, tạo điều kiện tiếp cận vốn và thúc đẩy đổi mới công nghệ; thị trường đảm nhiệm phân bổ nguồn lực thông qua các công cụ như định giá carbon; doanh nghiệp là trung tâm đổi mới; còn người dân tạo áp lực và động lực thông qua lối sống xanh. Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam. Yêu cầu này được lồng ghép vào tiêu chí lựa chọn nhà thầu, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đẩy mạnh mua sắm xanh, góp phần mở rộng thị trường cho các sản phẩm thân thiện môi trường.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng cần sớm hoàn thiện bộ tiêu chí xanh quốc gia, chuẩn hóa cơ chế xác nhận độc lập và công bố thông tin minh bạch theo thông lệ quốc tế. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để dẫn dòng vốn vào đúng lĩnh vực ưu tiên, đồng thời hạn chế tình trạng đầu tư mang danh “xanh” nhưng thiếu giá trị thực chất.

Ngoài ra, việc phát triển thị trường carbon trong nước, mở rộng quy mô trái phiếu xanh và tăng cường kết nối với các quỹ đầu tư quốc tế sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực cho tăng trưởng xanh. Nếu được vận hành đồng bộ, hệ thống tài chính xanh không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mà còn tạo động lực đổi mới cho toàn bộ nền kinh tế. Hiện nhiều quỹ đầu tư quốc tế hiện ưu tiên rót vốn vào doanh nghiệp có chiến lược ESG rõ ràng, hệ thống quản trị minh bạch và cam kết giảm phát thải cụ thể. Điều đó đồng nghĩa, doanh nghiệp đáp ứng tốt các tiêu chuẩn ESG thường có lợi thế hơn trong huy động vốn, mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/thuc-day-tang-truong-xanh-lua-chon-cua-tuong-lai-181247.html