Thực thi đồng bộ Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 từ ngày 16/4
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP nhằm cụ thể hóa thi hành Luật An toàn thực phẩm, đồng thời chuẩn hóa quy trình công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, để bảo đảm điều kiện thực thi đồng bộ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP, tạm ngưng hiệu lực hai văn bản trên đến hết ngày 15/4/2026.

Kiểm tra an toàn thực phẩm. Ảnh: TTXVN
Đây là bước điều chỉnh cần thiết về lộ trình nhằm tạo điều kiện để các địa phương chuẩn bị đầy đủ nguồn lực, tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ khi các quy định chính thức có hiệu lực.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là các địa phương phải chủ động, khẩn trương kiện toàn bộ máy quản lý. Theo đề nghị của Bộ Y tế tại Văn bản số 1222/BYT-ATTP, UBND các tỉnh, thành phố cần phân công rõ cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm; rà soát và chỉ định các cơ sở kiểm nghiệm đủ năng lực phục vụ quản lý. Đây là khâu nền tảng, quyết định hiệu quả thực thi khi các quy định chính thức có hiệu lực từ ngày 16/4/2026.
Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt là thực hiện nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian và rõ kết quả. Trong quản lý nhà nước, đặc biệt ở lĩnh vực có tính liên ngành cao như an toàn thực phẩm, nếu thiếu sự phân định cụ thể, nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm và phát sinh thủ tục trung gian là rất lớn. Do đó, việc xây dựng danh mục nhiệm vụ cụ thể theo nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu hành chính mà còn là giải pháp phòng ngừa rủi ro quản lý.
Một nội dung quan trọng khác là công khai, minh bạch thông tin. Danh sách cơ quan kiểm tra và cơ sở kiểm nghiệm phải được niêm yết trên trang thông tin điện tử của địa phương. Hiện Bộ Y tế đã công bố 6 cơ quan kiểm tra thực phẩm nhập khẩu và 27 cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định trên cổng thông tin của Bộ. Việc công khai này giúp doanh nghiệp tra cứu, thực hiện thủ tục đúng địa chỉ, giảm chi phí tuân thủ và hạn chế phát sinh tiêu cực.
Cùng với đó, yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp được đặt ra rõ ràng: áp dụng các biện pháp cần thiết để thông quan nhanh chóng, tránh tình trạng ách tắc, ùn ứ hàng hóa tại cửa khẩu. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm và lực lượng hải quan, bảo đảm vừa kiểm soát an toàn thực phẩm, vừa không làm gián đoạn hoạt động xuất nhập khẩu.
Việc phân cấp quản lý cũng cần được thực hiện triệt để. Các đơn vị chuyên môn và UBND cấp xã phải kiện toàn thủ tục hành chính, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đúng thẩm quyền. Khi thẩm quyền được xác định rõ, quy trình được chuẩn hóa, trách nhiệm cá nhân và tập thể sẽ được xác lập minh bạch hơn.
Bên cạnh đó là yêu cầu siết chặt giám sát đối với các cơ sở kiểm nghiệm, cơ quan kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu và các tổ chức đánh giá sự phù hợp đã đăng ký chứng nhận các hệ thống, tiêu chuẩn như HACCP, ISO/IEC 17025, IFS, BRC, FSSC hoặc tương đương tại Việt Nam. Hoạt động kiểm tra định kỳ hằng năm và kiểm tra đột xuất khi cần thiết là công cụ bảo đảm các chủ thể tham gia hệ thống tuân thủ đúng quy định, tránh tình trạng “hợp thức hóa” hồ sơ.
Trước đó vào cuối tháng 2/2026, tại cuộc họp do Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đồng chủ trì đã tiến hành rà soát các kiến nghị liên quan đến đề xuất sửa đổi Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP.
Tính đến ngày 25/2/2026, Ban soạn thảo đã nhận được ý kiến phản hồi từ 16 bộ, ngành, địa phương và 11 hiệp hội, doanh nghiệp. Những nội dung được thảo luận gồm trình tự, thủ tục đăng ký bản công bố hợp quy; thời hạn bản công bố; giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; công bố tiêu chuẩn áp dụng; điều khoản chuyển tiếp và một số vướng mắc kỹ thuật như mẫu phiếu kết quả kiểm nghiệm đối với cơ sở kiểm nghiệm nước ngoài.
Việc tiếp thu, tổng hợp ý kiến để tham mưu Chính phủ hướng dẫn chung và hướng dẫn chuyên ngành thể hiện cách tiếp cận thận trọng, khoa học, hướng tới quản lý “từ gốc” trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Mục tiêu không chỉ là hoàn thiện quy định trên giấy tờ, mà là xây dựng cơ chế vận hành thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước.
Từ nay đến mốc 16/4/2026, khoảng thời gian chuẩn bị không dài. Điều cần thiết là sự chủ động của từng địa phương, sự phối hợp liên ngành và tinh thần trách nhiệm của mỗi cơ quan được giao nhiệm vụ. Khi nguồn lực, bộ máy và quy trình được chuẩn bị đầy đủ, việc thực thi Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP sẽ bảo đảm thông suốt, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời tạo môi trường minh bạch, ổn định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.











