Thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước, thể hiện tầm nhìn dài hạn, mục tiêu rõ ràng và quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Khai mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Khai mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Nghị quyết Đại hội XIV là “kim chỉ nam” định hướng tư duy và hành động cho cả hệ thống chính trị, với yêu cầu phải thu hẹp khoảng cách từ Nghị quyết đến kết quả thực chất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Việc biến Nghị quyết thành kết quả cụ thể, hữu hình là thước đo bản lĩnh lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng.

Hơn 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng mọi thành tựu của đất nước đều gắn liền với những giai đoạn mà chủ trương đúng được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Những thành tựu này không đến từ Nghị quyết trên giấy, mà đến từ khả năng tổ chức thực hiện, từ năng lực biến đường lối thành kết quả phát triển cụ thể. Chính vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ yêu cầu chuyển mạnh từ phương thức “quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính” sang “quản trị dựa trên kết quả”.

Phương thức quản lý cũ, dựa trên mệnh lệnh hành chính, vốn dễ dẫn tới tình trạng hình thức, quan liêu, “nói nhiều làm ít”, “nói không đi đôi với làm”. Đây là thực trạng đã được kiểm chứng và Đảng ta đã nhiều lần thẳng thắn thừa nhận: có Nghị quyết đúng nhưng tổ chức thực hiện chậm, kết quả hạn chế, năng lực cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu.

Ngược lại, chuyển sang quản trị dựa trên kết quả đòi hỏi mỗi chủ trương phải được gắn với mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể, phân công trách nhiệm minh bạch, giải trình, cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đồng thời tập trung vào sản phẩm thực tế và tác động xã hội. Đây là phương thức quản trị hiện đại, phù hợp với yêu cầu rất cao của kỷ nguyên phát triển mới.

Một trong những điểm đột phá mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh là sự thay đổi trong đánh giá kết quả: từ “báo cáo hình thức” sang đánh giá bằng “sản phẩm phát triển cụ thể” và “tác động xã hội thực chất”. Mỗi Nghị quyết, chương trình hành động phải trả lời được câu hỏi căn bản: lợi ích thiết thực mang lại cho đất nước, cho nhân dân và cho sự phát triển bền vững là gì? Thước đo hiệu quả không còn là những con số báo cáo chung chung, mà là những chuyển biến cụ thể trong đời sống kinh tế-xã hội, sự hài lòng và niềm tin của người dân, năng lực quốc gia được nâng cao, cơ hội phát triển được mở rộng.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV đã xác định 5 điểm then chốt trong tổ chức thực hiện. Thứ nhất, nâng cao năng lực thể chế hóa và cụ thể hóa nghị quyết thành chính sách và pháp luật khả thi, ổn định và minh bạch. Thứ hai, cải cách phương thức tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi, trong đó nhấn mạnh việc đặt kết quả thực chất lên hàng đầu, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm. Thứ ba, coi hiệu quả phát triển và sự hài lòng của nhân dân là thước đo cao nhất, bảo đảm mỗi chủ trương, chính sách đều trả lời được nhu cầu thiết thực của nhân dân. Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo. Thứ năm, gắn thực hiện nghị quyết với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Những nguyên tắc này không chỉ yêu cầu thay đổi tư duy, mà còn đòi hỏi hành động quyết liệt, nhất quán từ Trung ương đến địa phương. Trong đó, vai trò tuyến đầu của chính quyền địa phương được coi là điều kiện quan trọng để thu hẹp khoảng cách từ Nghị quyết đến kết quả thực chất. Chính quyền địa phương không thể sao chép máy móc, mà phải phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Thời gian là nguồn lực phát triển đặc biệt quan trọng, chậm trễ trong tổ chức thực hiện sẽ gây lãng phí nguồn lực, thậm chí còn đánh mất cơ hội phát triển.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị dựa trên kết quả cũng được triển khai thông qua hệ thống kiểm tra, giám sát toàn diện. Trung ương giữ vai trò định hướng và kiểm soát, Quốc hội nâng cao chất lượng lập pháp và giám sát tối cao, Chính phủ và các bộ, ngành chuyển từ ban hành chính sách sang tổ chức thực thi đến cùng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội tham gia giám sát từ cơ sở đến Trung ương. Toàn bộ hệ thống chính trị phải vận hành như một cơ chế đồng bộ, trong đó mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều biết rõ trách nhiệm và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.

Từ thực tiễn tổ chức thực hiện các nghị quyết trước đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: chọn đúng vấn đề để ra nghị quyết là bước then chốt đầu tiên quyết định hiệu quả toàn bộ quá trình lãnh đạo. Một nghị quyết đúng vấn đề phải bắt nguồn từ thực tiễn sống động, phản ánh những điểm nghẽn, nút thắt, vấn đề bức xúc và cấp thiết trong đời sống xã hội, đồng thời gắn kết với nghiên cứu lý luận, dự báo xu hướng và mối quan hệ tổng thể giữa các lĩnh vực. Nếu không bắt đúng vấn đề, nghị quyết sẽ khó phát huy hiệu quả và dễ trở thành hình thức, xa rời thực tế.

Cùng với đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yếu tố then chốt thứ hai: tổ chức thực hiện Nghị quyết quyết liệt và đồng bộ. Nghị quyết dù đúng, trúng đến mấy, nếu không tổ chức thực hiện quyết liệt thì vẫn có nguy cơ “nằm trên giấy”.

Nghị quyết càng bám sát với vấn đề nhân dân quan tâm, càng trúng nhu cầu thiết thực, thì càng tạo động lực xã hội mạnh mẽ. Thí dụ, các nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khi triển khai quyết liệt tại các địa phương, đã mang lại kết quả rõ rệt, nâng cao đời sống người dân, đồng thời huy động được sức mạnh cả hệ thống chính trị tham gia và giám sát. Ngược lại, nếu nghị quyết xa rời thực tiễn, chung chung về mục tiêu và giải pháp, sẽ khó triển khai, giảm niềm tin xã hội và tạo tâm lý thờ ơ trong tổ chức thực hiện.

Thu hẹp khoảng cách từ Nghị quyết đến kết quả thực chất còn đòi hỏi kỷ luật trách nhiệm nghiêm minh. Thí dụ: Tập thể nào không hoàn thành nhiệm vụ, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Cá nhân nào không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phải biết tự rút lui hoặc bị xem xét thay thế. Không thể để Nghị quyết đúng, tổ chức thực hiện yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm. Đây chính là cách Đảng thể hiện bản lĩnh lãnh đạo, bảo đảm rằng thời gian, nguồn lực và cơ hội phát triển của đất nước không bị lãng phí.

Có thể khẳng định, việc thu hẹp khoảng cách từ Nghị quyết đến kết quả thực chất không chỉ là nhiệm vụ hành chính, mà là thước đo sinh động của năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Nó đòi hỏi hệ thống chính trị phải vận hành đồng bộ, từ Trung ương tới địa phương, từ người đứng đầu đến mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi Nghị quyết khi được ban hành, nếu được tổ chức thực hiện quyết liệt, khoa học, hướng tới kết quả thực chất, sẽ giải quyết được vấn đề xã hội đặt ra, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân, tăng uy tín của Đảng và đưa đất nước phát triển bền vững, toàn diện.

Tiến sĩ PHẠM NGỌC HÙNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/thuoc-do-nang-luc-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-trong-ky-nguyen-moi-post967128.html