Thưởng 4 triệu khi sinh đủ 2 con, chuyên gia cảnh báo nguy cơ 'tốn ngân sách nhưng không tăng tỷ lệ sinh'

Hà Nội vừa quyết định thưởng 4 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi nhằm khuyến sinh. Tuy nhiên, chuyên gia cho rằng để người trẻ thực sự "dám sinh", khoản tiền một lần này là chưa đủ nếu thiếu các chính sách dài hạn tháo gỡ gánh nặng nhà ở, giáo dục và việc làm.

HĐND TP Hà Nội vừa thông qua nghị quyết thực hiện chính sách về dân số, trong đó có hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân và khuyến khích phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.

Cụ thể, thành phố dự kiến hỗ trợ 1 triệu đồng cho mỗi cặp nam, nữ đủ điều kiện kết hôn, cư trú tại Hà Nội và thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn. Đặc biệt, phụ nữ cư trú trên địa bàn sinh đủ hai con trước 35 tuổi được hỗ trợ 4 triệu đồng/người khi sinh.

Theo dự kiến, Hà Nội cần khoảng 60 tỷ đồng mỗi năm để thực hiện chính sách khuyến khích này. Chính sách được đưa ra trong bối cảnh mức sinh của Thủ đô liên tục đi xuống, từ 2,11 con/phụ nữ năm 2011 còn 1,87 con/phụ nữ năm 2025, thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ.

Trao đổi về vấn đề này, bác sĩ Mai Xuân Phương, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông - Giáo dục, Tổng cục Dân số (nay là Cục Dân số, Bộ Y tế), cho rằng mức hỗ trợ 4 triệu đồng là bước đi thiết thực, thể hiện sự đồng hành và ghi nhận của chính quyền đối với phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.

Theo ông Mai Xuân Phương, 4 triệu đồng chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ ban đầu, khó đủ sức quyết định việc sinh con thứ hai khi các gia đình trẻ còn đối mặt với gánh nặng nhà ở, giáo dục, y tế và áp lực nghề nghiệp kéo dài 18-20 năm. Ảnh: NVCC

Theo ông Mai Xuân Phương, 4 triệu đồng chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ ban đầu, khó đủ sức quyết định việc sinh con thứ hai khi các gia đình trẻ còn đối mặt với gánh nặng nhà ở, giáo dục, y tế và áp lực nghề nghiệp kéo dài 18-20 năm. Ảnh: NVCC

Nếu không tháo gỡ những rào cản này, chính sách thưởng tiền một lần khó tạo ra mức tăng sinh bền vững, thậm chí có nguy cơ tốn ngân sách mà không đạt mục tiêu.

Người trẻ không phải không muốn sinh, mà không dám sinh

Một trong những vấn đề cần được nhìn nhận khi xây dựng chính sách dân số, theo ông Phương, là phải phân biệt giữa nhóm thực sự không muốn sinh con và nhóm không dám sinh con.

Với nhóm thứ nhất, việc không sinh con hoặc sinh ít con thường xuất phát từ sự thay đổi quan niệm sống, ưu tiên tự do cá nhân, phát triển sự nghiệp hoặc lựa chọn cuộc sống không có con.

Trong khi đó, nhóm không dám sinh vẫn có mong muốn làm cha mẹ, yêu trẻ nhỏ và muốn có con, nhưng bị níu lại bởi áp lực kinh tế, nguy cơ mất cơ hội nghề nghiệp và sự thiếu hụt các dịch vụ hỗ trợ xã hội.

Khoảng cách giữa số con mong muốn và số con thực tế là một chỉ dấu quan trọng để nhận diện nhóm này. Theo chuyên gia, chính sách dân số cần quan tâm đến những người vẫn mong muốn có hai con nhưng chưa đủ điều kiện hoặc chưa cảm thấy an tâm để thực hiện mong muốn đó.

Vì vậy, thay vì chỉ tập trung vào các khoản hỗ trợ tài chính một lần, chính sách khuyến sinh cần chuyển mạnh sang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nuôi dạy con lâu dài.

Trước hết là giảm chi phí nuôi con thông qua các chính sách hỗ trợ giáo dục, y tế cho trẻ em; phát triển đủ trường mầm non công lập, bảo đảm chất lượng và có dịch vụ giữ trẻ ngoài giờ, cuối tuần với chi phí hợp lý.

Cùng với đó, cần tạo môi trường làm việc thân thiện với gia đình, có giờ làm linh hoạt và cơ chế bảo vệ phụ nữ sau thai sản, để việc sinh con không trở thành rào cản đối với sự nghiệp. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Cùng với đó, cần tạo môi trường làm việc thân thiện với gia đình, có giờ làm linh hoạt và cơ chế bảo vệ phụ nữ sau thai sản, để việc sinh con không trở thành rào cản đối với sự nghiệp. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Trong những điểm nghẽn cần tháo gỡ, chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh vấn đề nhà ở và định kiến đối với lao động nữ.

Khả năng tiếp cận nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với các cặp vợ chồng trẻ. Khi chưa có nơi ở ổn định, việc quyết định sinh thêm con sẽ trở thành gánh nặng lớn.

Bên cạnh đó, cần xóa bỏ tình trạng phụ nữ bị bất lợi trong tuyển dụng, đánh giá và thăng tiến vì thiên chức làm mẹ. Sinh con không nên đồng nghĩa với việc người phụ nữ phải đánh đổi cơ hội nghề nghiệp hoặc thu nhập của mình.

Đừng để sinh con thứ hai trở thành áp lực riêng của phụ nữ

Một vấn đề khác được ông Phương lưu ý là mốc tuổi trước 35 trong chính sách khuyến khích sinh đủ hai con.

Nếu thiết kế quá cứng nhắc, quy định này có thể vô tình tạo thêm áp lực cho những phụ nữ kết hôn muộn do học tập, lập nghiệp hoặc gặp trở ngại về sức khỏe sinh sản, trong đó có tình trạng hiếm muộn.

Chính sách dân số cần mang tính khuyến khích, hỗ trợ thay vì tạo cảm giác áp đặt hành vi sinh sản. Việc thiết kế chính sách cần có tính linh hoạt, quan tâm đến khoảng cách giữa các lần sinh, hoàn cảnh và khả năng sinh sản thực tế của từng gia đình.

Cho rằng cần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ khám, điều trị hiếm muộn và hỗ trợ sinh sản, chuyên gia đề xuất nghiên cứu đưa một phần dịch vụ hỗ trợ sinh sản, trong đó có thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), vào danh mục được bảo hiểm y tế hỗ trợ. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Cho rằng cần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ khám, điều trị hiếm muộn và hỗ trợ sinh sản, chuyên gia đề xuất nghiên cứu đưa một phần dịch vụ hỗ trợ sinh sản, trong đó có thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), vào danh mục được bảo hiểm y tế hỗ trợ. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Theo ông, trách nhiệm chăm sóc con cái cũng không thể tiếp tục đặt chủ yếu lên vai người phụ nữ.

Nam giới cần được tạo điều kiện nghỉ chăm sóc vợ và con sau sinh dài hơn, với đề xuất ít nhất 2-4 tuần hưởng nguyên lương, qua đó chia sẻ trách nhiệm chăm sóc trẻ sơ sinh.

Doanh nghiệp cũng cần được khuyến khích xây dựng môi trường làm việc thân thiện với gia đình, chẳng hạn có phòng vắt và trữ sữa tại nơi làm việc, nhà trẻ nội bộ hoặc cho phép làm việc từ xa khi người lao động có con nhỏ. Nhà nước có thể nghiên cứu các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng đối với doanh nghiệp thực hiện tốt những mô hình này.

Đồng thời, hệ thống dịch vụ công như trường mầm non, y tế trường học cần trở thành trụ cột hỗ trợ chăm sóc trẻ em, giúp cha mẹ giảm bớt thời gian, chi phí và áp lực nuôi dạy con. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Đồng thời, hệ thống dịch vụ công như trường mầm non, y tế trường học cần trở thành trụ cột hỗ trợ chăm sóc trẻ em, giúp cha mẹ giảm bớt thời gian, chi phí và áp lực nuôi dạy con. Ảnh: Phụ sản Hà Nội

Không thể chỉ nhìn số tiền giải ngân hay số phụ nữ nhận hỗ trợ để đánh giá hiệu quả chính sách khuyến sinh. Điều quan trọng là chính sách có thúc đẩy các gia đình sinh con thứ hai hay không, thể hiện qua tỷ lệ sinh con thứ hai trong 3-5 năm, diễn biến tổng tỷ suất sinh và khả năng đưa mức sinh Hà Nội từ 1,87 trở lại mức thay thế 2,1 con/phụ nữ.

Cùng với đó, cần theo dõi tuổi kết hôn, khoảng cách giữa hai lần sinh, niềm tin của các gia đình trẻ vào khả năng nuôi dạy con và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ trở lại làm việc sau sinh mà không bị giảm thu nhập hay mất cơ hội nghề nghiệp.

Văn Hiền

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/thuong-4-trieu-khi-sinh-du-2-con-chuyen-gia-canh-bao-nguy-co-ton-ngan-sach-nhung-khong-tang-ty-le-sinh-post366096.html