Thương binh, Anh hùng LLVTND Trần Xuân Thiện: Kỳ tích bắn 18 quả B40 trong một ngày
Là xạ thủ bắn B40 'bách bắn, bách trúng', đã trực tiếp cùng đồng đội phá hủy nhiều xe tăng, xe bọc thép, các đồn, chốt, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm quân địch. Đó là đôi nét phác họa chân dung về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Trần Xuân Thiện.
Sáng 22/7/2026, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội), chương trình giới thiệu “Hồ sơ Chứng tích chiến tranh 2026”, “Ký ức tháng Năm” và trao tặng chân dung “Mãi mãi tuổi 20” đã diễn ra trang trọng, hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026). Chương trình góp phần tôn vinh đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, kết nối những chứng tích chiến tranh với ký ức lịch sử, lan tỏa các giá trị nhân văn và khơi dậy trách nhiệm gìn giữ truyền thống cách mạng trong cộng đồng.
Tại sự kiện, tôi có dịp ngồi cùng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Xuân Thiện và Thiếu tướng Triệu Văn Ngô, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc về những con người đã đi qua chiến tranh, mang trên mình những chiến công và cả những vết thương không bao giờ lành.
Là xạ thủ B40 nổi tiếng với thành tích “bách bắn, bách trúng”, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Xuân Thiện đã trực tiếp cùng đồng đội phá hủy nhiều xe tăng, xe bọc thép, nhiều đồn, chốt của địch; tiêu diệt và bắt sống hàng trăm quân địch. Đó là những nét phác họa đầu tiên về người chiến sĩ đã góp phần làm nên những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nhìn người cựu chiến binh với dáng vẻ điềm đạm, khiêm nhường ngồi trước mặt, ít ai có thể hình dung rằng hơn nửa thế kỷ trước, ông từng là một trong những mũi nhọn xung kích trên chiến trường Tây Nguyên rồi tiến thẳng vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những chiến công của ông không chỉ được ghi nhận bằng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn được đồng đội nhắc đến bằng sự khâm phục đối với bản lĩnh, lòng quả cảm và tinh thần quyết chiến, quyết thắng.

Thành Đô ( thứ 1 bìa phải ) anh hùng Trần Xuân Thiện ( thứ 2 bìa phải ) Thiếu tướng Triệu Văn Ngô nguyên Phó tư lệnh TMT Quân Khu 1 ( thứ 3 ) , Thiếu tướng anh hùng Phan Văn Lai ( thứ 1 bìa trái ) - phút mặc niệm các anh hùng liệt sĩ tại sự kiện .
Anh hùng Trần Xuân Thiện sinh năm 1954 tại xóm Cọ Một, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương (nay là xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
Tháng 9 năm 1972, khi vừa tròn mười tám tuổi, anh tình nguyện vào quân ngũ, thuộc quân số của Đại đội C1, Tiểu đoàn 76, rồi cùng đơn vị hành quân vào chiến trường miền Nam. Đến Tây Nguyên, anh được phân công về Đại đội C3, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Tại đây, anh đã tham gia rất nhiều trận đánh lớn, nhỏ và liên tiếp lập được nhiều chiến công, trở thành Anh hùng.
Anh ngồi bên cạnh tôi có nước da ngăm đen, gương mặt rắn rỏi, cương nghị, giọng nói trầm ấm, tác phong điềm đạm, dễ gần. Chiến tranh đã khiến ông mất đi phần lớn sức khỏe khi những mảnh đạn pháo của giặc Mỹ găm vào sống mũi, vào cổ; chất độc hóa học ngấm vào từng đường gân, thớ thịt; những trận sốt rét như hút cạn sinh lực của ông, nhưng không thể lấy đi sự mưu trí, gan dạ, dũng cảm cùng lòng quyết tâm chiến đấu và chiến thắng đến hơi thở cuối cùng.
Hơn 17 năm binh nghiệp, ông đã trực tiếp tham gia chỉ huy 11 trận đánh lớn, nhỏ và đều giành chiến thắng. Nhắc đến ông, đồng đội không thể không kể tới trận đánh chốt chặn giao thông trên Đường 7, Cheo Reo vào ngày 19/3/1975. Chỉ với 6 chiến sĩ do ông trực tiếp chỉ huy, đơn vị đã tiêu diệt hơn 40 tên địch; bắn cháy 8 xe tăng và xe bọc thép; bắt sống 90 tù binh; thu hai xe đầy vũ khí cùng 17 xe tăng và xe bọc thép; làm tê liệt hoàn toàn một liên đội biệt động của quân ngụy.
Hay như trận Buôn Hồ ngày 12/3/1975, lần đầu tiên ông xung trận với tư cách là một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và trên cương vị Tiểu đội trưởng. Lúc đó, Tiểu đội do ông Thiện chỉ huy đã tiến vào trận địa của địch khi pháo yểm trợ của ta vẫn chưa dứt. Nhằm ngăn chặn thương vong, ông đã dũng cảm đứng lên điểm cao, phất cờ Tổ quốc làm tín hiệu chuyển làn, đồng thời nhanh chóng chỉ huy Tiểu đội phá vỡ hàng rào chống tăng của địch, giúp quân ta giành chiến thắng mà vẫn bảo toàn lực lượng.
Sự mưu trí, gan dạ của ông Thiện có sức ảnh hưởng rất lớn, nên Sư đoàn 320 (đơn vị của ông Thiện) đã phát động phong trào “Bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt trong chiến đấu” trong toàn Sư đoàn.
Tháng 4/1975, trong khí thế tiến công như vũ bão để giải phóng Sài Gòn, ông Thiện với khẩu B40 trên vai lại tiếp tục dập tắt những điểm chốt hỏa lực mạnh của địch, hạn chế thương vong cho quân ta. Bình thường, mỗi người lính chỉ đủ sức bắn từ 6 đến 8 quả B40 trong một ngày, nhưng trong khí thế ngút trời tiến công cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, ông Thiện đã bắn tới 18 phát B40 trúng đích trong ngày 29/4/1975, góp phần giải phóng quận Hóc Môn, mở toang cánh cửa tiến vào phía Tây Bắc Sài Gòn.

Anh hùng Trần Xuân Thiện ( bìa trái ) & Thành Đô tại sự kiện
Chỉ tính riêng trong năm 1975, anh đã tham gia 11 trận đánh lớn, nhỏ. Những quả đạn B40 bắn ra chưa bao giờ lạc đích. Thành quả đó đã góp phần cùng toàn quân, toàn dân ta làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử. Với những chiến công hiển hách ấy, ngày 6/11/1978, anh vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Chiến tranh kết thúc, anh tiếp tục công việc của một người lính thời bình, học tập và tham gia công tác trên cương vị Trợ lý tác chiến Ban Chỉ huy Quân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Năm 1989, sau hơn 17 năm phục vụ trong quân ngũ, anh phục viên.
Chưa vội nghỉ ngơi, phát huy phẩm chất tốt đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ, anh tiếp tục tham gia công tác ở địa phương và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dù ở bất kỳ cương vị nào.
Trong quá trình chiến đấu, học tập và công tác trong quân ngũ, anh đã được tặng thưởng: danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì và hạng Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng; 1 danh hiệu Dũng sĩ diệt cơ giới cấp Ưu tú; 1 Huy chương Chiến sĩ giải phóng và 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.
Tôi hỏi anh:
- Chế độ người có công của anh hiện nay được hưởng như thế nào ạ?
Anh mỉm cười, chậm rãi trả lời:
- Hiện tại tôi đang được hưởng 4 chế độ trợ cấp:
- Thương binh hạng 3;
- Chế độ nạn nhân chất độc da cam hạng 3;
- Trợ cấp theo Quyết định 142;
- Trợ cấp Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cả bốn khoản, mỗi tháng tôi được hơn 10 triệu đồng.
Tôi buột miệng nói:
- Mức trợ cấp như vậy cũng còn thấp anh ạ.
Anh chỉ cười hiền rồi khẽ nói:
- Còn sống để trở về với gia đình đã là may mắn hơn nhiều đồng đội của tôi. Có những người đã ngã xuống, đến bây giờ vẫn chưa tìm được hài cốt…
Nói đến đó, anh lại im lặng.
Sự im lặng ấy khiến câu chuyện như chùng xuống. Ánh mắt người Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân không còn hướng về những chiến công của mình, mà dường như đang lặng lẽ tìm về những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Với những người lính từng đi qua chiến tranh, điều day dứt nhất không phải là những vết thương trên cơ thể, mà là vẫn còn những người đồng đội chưa thể trở về với đất mẹ, để gia đình có một nén hương, một nơi gửi gắm nỗi nhớ sau hơn nửa thế kỷ hòa bình.

Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đào Văn Quân
Thời gian không còn nhiều, chúng tôi phải dành cho chương trình chính của sự kiện. Trước khi dừng câu chuyện, tôi nói với anh Thiện:
Binh chủng Đặc công, em được biết có Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đào Văn Quân đã bắn 6 quả B41, tiêu diệt 6 xe địch trong trận phục kích đoàn xe quân Trung Quốc ngày 10/3/1979 trên đèo Tài Hồ Sìn; Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Tình trong trận đánh Tech Nich tháng 7/1967 đã bắn 7 quả B40, tiêu diệt 6 xe địch; còn Anh hùng, Liệt sĩ Nguyễn Đình Quân, đơn vị P1 tỉnh Lâm Đồng, là chiến sĩ thiện xạ sử dụng B40. Trong trận đánh đoàn xe địch trên Đường 20 từ Di Linh đến Đại Ninh, bằng 8 quả đạn, ông đã bắn cháy 8 xe bọc thép; trong trận đánh trụ sở xã Châu Trưng, ông đã chặn địch để đồng đội tải thương và anh dũng hy sinh.

Đại tá anh hùng Nguyễn Xuân Tình ( trái ) Đại tá Nguyễn Văn Khuynh CCB Đặc công J16(429)
CCB Đặc công, thương binh Lã Mạnh Tùng trong trận đánh căn cứ 42 Biển Hồ ngày 1/5/1972 đã bắn 7 quả B41. (Thương binh Lã Mạnh Tùng cũng là người nhiều năm lăn lộn trên chiến trường Tây Nguyên để tìm kiếm hài cốt đồng đội).
Em thì lần đầu tiên, năm 1979, cũng bắn 1 quả B40. Ngay sau đó có hiện tượng ù tai. Nên khi đọc tư liệu, nghe anh kể, em vẫn thắc mắc tại sao trong một ngày anh bắn tới 18 quả đạn B40 mà không bị chảy máu tai và cũng không bị ù tai?
Anh hùng Trần Xuân Thiện trả lời:
“Khẩu B40 là ống thổi lửa chia thành hai phần bằng nhau, khi phản lực cân bằng ở tai bằng 0.
Nghĩa là đầu súng và đuôi súng khi phát đạn bắn nổ mà phản lực cân bằng ở tai bằng 0 thì lấy gì mà ù tai được nữa.”
(Đây là nguyên văn câu trả lời của Anh hùng Trần Xuân Thiện).
Đúng là câu chuyện một ngày bắn 18 quả B40 chỉ có Trần Xuân Thiện mới thực hiện được. Anh Trần Xuân Thiện xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Thật khâm phục anh!
Hẹn anh, có dịp Thành Đô sẽ lên Phú Lương thăm người anh hùng, người thương binh gương mẫu, quả cảm.

CCB Đặc công Thương Binh Lã Mạnh Tùng ( trái ) & Thành Đô











