Tiết kiệm năng lượng trong doanh nghiệp: Dễ khởi đầu, vì sao khó đi đến tận cùng?
Công nghệ chỉ tạo ra bước nhảy vọt ban đầu. Muốn duy trì hiệu quả tiết kiệm năng lượng bền vững, các doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời 4 bài toán lớn: Nguồn vốn - Đo lường - Quản trị - Con người.
Kiểm toán năng lượng, công ty dịch vụ năng lượng (ESCO), hạ tầng khu công nghiệp và công nghệ đều đã có giải pháp kỹ thuật. Tuy nhiên, điểm khó nằm ở chỗ biến những giải pháp đó thành hiệu quả tiết kiệm thực tế và duy trì được trong vận hành.
“Kiểm toán năng lượng vẫn có nguy cơ trở thành thủ tục hành chính. Liên quan đến nội dung này, Phóng viên Tạp chí Kinh tế môi trường đã có cuộc trò chuyện với ông Mã Khai Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng (Enerteam).
Kiểm toán năng lượng: Tránh nguy cơ biến thành "thủ tục hành chính"
Thưa ông, các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải kiểm toán định kỳ 3 năm một lần. Nhưng nếu doanh nghiệp chỉ làm báo cáo để hoàn thành thủ tục, việc kiểm toán còn giá trị gì?
Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ báo cáo kiểm toán năng lượng mang tính đối phó. Dù vậy, thực tế phản ánh cho thấy chất lượng kiểm toán tại không ít nơi vẫn còn rất hình thức.
Nhiều báo cáo tuy đáp ứng đúng và đủ biểu mẫu quy định, nhưng số liệu đo đạc thực địa, phần phân tích kỹ thuật và các giải pháp đề xuất lại thiếu tính thẩm tra độc lập.
Vậy điểm yếu nằm ở doanh nghiệp hay ở cách quản lý?
Ở cả hai, khâu kiểm tra đang thiếu nguồn lực. Các Sở Công Thương chưa đủ điều kiện kiểm tra sâu từng báo cáo; đồng thời chưa có quy trình thẩm định độc lập, đối chiếu số liệu sau kiểm toán và hậu kiểm ngẫu nhiên tại hiện trường.
Nếu chỉ kiểm tra doanh nghiệp có nộp đúng mẫu hay không, kiểm toán rất dễ trở thành một thủ tục. Phải đánh giá được số liệu có đáng tin hay không, phân tích có đúng thực tế sản xuất và giải pháp có thể triển khai hay không.

"Chúng ta đã đạt các mục tiêu tiết kiệm năng lượng nhưng đạt được ở mức độ còn khiêm tốn, rào cản chủ yếu đến từ nhận thức của doanh nghiệp", Ông Mã Khai Hiền, Giám đốc Enerteam.
Theo ông, có nên công khai doanh nghiệp làm kiểm toán đối phó để tạo sức ép?
Phải thẩm định độc lập trước khi công khai. Một số tổ chức đủ năng lực có thể tham gia đánh giá chất lượng báo cáo. Khi có bộ tiêu chí và kết quả thẩm định rõ ràng, cơ quan quản lý mới đủ cơ sở để đánh giá doanh nghiệp và đơn vị tư vấn.
Nếu chưa có tiêu chí mà đã công khai danh sách, có thể gây sức ép sai đối tượng, thậm chí nêu tên doanh nghiệp đã cải tiến nhưng báo cáo chưa được trình bày tốt.
ESCO: Vốn không thiếu, nhưng rủi ro khó chia
ESCO được kỳ vọng giải bài toán thiếu vốn: đơn vị dịch vụ bỏ tiền trước, doanh nghiệp trả bằng phần năng lượng tiết kiệm được. Vì sao mô hình này vẫn chưa thành thị trường thực sự sau gần hai thập kỷ?
ESCO chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Những mô hình đang có chủ yếu là bán năng lượng hoặc hợp đồng đảm bảo hiệu quả, trong đó doanh nghiệp vẫn bỏ vốn. Mô hình chia sẻ tiết kiệm đúng nghĩa, tức ESCO bỏ vốn và thu hồi từ phần năng lượng tiết kiệm được, vẫn rất hạn chế.
Rào cản đến từ cả hai phía.
Theo ông, ESCO sợ điều gì ở doanh nghiệp?
ESCO lo rủi ro thanh toán và việc kết quả tiết kiệm thay đổi theo tình trạng sản xuất. Doanh nghiệp có thể giảm công suất hoặc thay đổi chế độ vận hành, khiến lượng tiết kiệm khác với cam kết. Khi đó dễ phát sinh tranh chấp về cách đo lường, kết quả tiết kiệm và nghĩa vụ thanh toán.
Hành lang pháp lý cho hợp đồng ESCO cũng chưa hoàn thiện, nên phần lớn rủi ro vẫn nằm ở phía đơn vị bỏ vốn.
Vậy còn doanh nghiệp sợ gì ở ESCO?
Doanh nghiệp lo độ chính xác của việc đo lường, tính toán khoản tiết kiệm, độ ổn định của thiết bị và tác động của giải pháp tới sản xuất. Họ cũng phải tính đến thiết bị, công nghệ sau khi hợp đồng kết thúc và trách nhiệm bảo đảm hiệu quả trong dài hạn.
Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp thiếu minh bạch về kế toán khiến ESCO không dám xuống tiền. Có phải vậy không?
Theo tôi, nút thắt lớn hơn là thiếu cơ chế tài chính và tín dụng chuyên biệt. Khi chưa có cơ chế này, cả ESCO và doanh nghiệp đều khó đo lường, giám sát và chia sẻ dòng tiền tiết kiệm theo hợp đồng.
KCN: Năng lượng phải có mặt từ bản vẽ quy hoạch
Trong bối cảnh hiện nay, theo ông, có nên luật hóa trách nhiệm đầu tư hạ tầng năng lượng tuần hoàn đối với chủ đầu tư KCN ngay từ khâu quy hoạch, cấp phép?
Theo tôi, nên hướng tới luật hóa. KCN sinh thái không thể chỉ dừng ở xử lý chất thải hay một chứng nhận xanh. Hạ tầng năng lượng phải được tính từ đầu, gồm điện, mạng nhiệt, mạng lạnh và hệ thống điều khiển tập trung.
Với KCN mới, đây nên là một phần của bộ tiêu chí hạ tầng sinh thái.
Nhưng các KCN cũ đã lấp đầy thì sao? Có thể áp dụng cùng một chuẩn?
Không thể áp cùng một chuẩn với KCN mới. Hạ tầng dùng chung đã hình thành, trong khi doanh nghiệp cũng đã đầu tư hệ thống nhiệt, lạnh, khí nén theo cách riêng.
Khả thi hơn là cải tạo từng hạng mục theo lộ trình, có hỗ trợ tài chính, thay vì buộc chuyển đổi đồng loạt. Nếu chi phí tăng quá mạnh, nhà đầu tư có thể chọn rút lui thay vì cải tiến.
Điều gì đủ sức buộc chủ đầu tư KCN thay đổi?
Thị trường. Các nhà đầu tư FDI ngày càng quan tâm đến KCN có năng lượng tái tạo, ESG và tài chính xanh. Khi yêu cầu pháp lý gặp nhu cầu của dòng vốn FDI, hạ tầng năng lượng xanh sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh chứ không chỉ là chi phí tuân thủ.
Điện mặt trời không thay thế hiệu quả năng lượng
Nhiều doanh nghiệp chọn điện mặt trời mái nhà để “xanh hóa”. Nếu dây chuyền vẫn tiêu tốn năng lượng như cũ, theo ông, đó có phải là xanh hóa nửa vời?
Điện mặt trời dễ làm và thấy hiệu quả ngay. Ngược lại, thay đổi công nghệ lõi cần vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài và có thể ảnh hưởng đến sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp thường chọn phương án ít rủi ro trước.
Nhưng nếu chỉ lắp điện mặt trời, doanh nghiệp mới thay đổi nguồn cung điện chứ chưa giảm nhu cầu năng lượng. Thiết bị vẫn tiêu hao lớn, thất thoát vẫn còn và phát thải từ quá trình sản xuất chưa được xử lý.
Theo ông, rủi ro lớn nhất của cách làm này là gì?
Doanh nghiệp có thể giảm chi phí điện và một phần dấu chân carbon, nhưng suất tiêu hao năng lượng trên sản phẩm vẫn không giảm. Khi yêu cầu xanh trong chuỗi cung ứng ngày càng chặt, điều đó sẽ trở thành rủi ro cạnh tranh.
Khi dữ liệu phát thải phải được đo và kiểm chứng, cách “tô xanh” bề nổi sẽ bị phát hiện thế nào?
Nếu chỉ lắp điện mặt trời mà tổng phát thải và suất tiêu hao năng lượng không giảm tương xứng, số liệu sẽ cho thấy khoảng cách đó. Điện mặt trời vì vậy chỉ là một phần của bài toán. Doanh nghiệp vẫn phải cải tiến công nghệ và quản lý năng lượng.

Việt Nam đặt mục tiêu tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ điện giai đoạn 2019-2030. Nguồn: EVN
Công nghệ Việt: Thiếu một cơ chế để dám thử
Từ góc nhìn của ông, doanh nghiệp Việt thiếu công nghệ hay thiếu cơ chế giảm rủi ro khi dùng giải pháp trong nước?
Tôi cho rằng thiếu cơ chế giảm rủi ro nhiều hơn là thiếu năng lực công nghệ. Giải pháp Make in Vietnam có lợi thế về khả năng bám sát bài toán của doanh nghiệp và chi phí đầu tư thấp hơn. Điểm yếu là nhiều sản phẩm chưa có tính hệ thống như các nền tảng đã được kiểm chứng ở quy mô toàn cầu.
Như ông nói, điểm nghẽn nằm ở niềm tin?
Đúng. Hiện chưa có hệ thống tiêu chuẩn công khai để đánh giá độ tin cậy của công nghệ năng lượng nội địa. Doanh nghiệp thiếu căn cứ để so sánh và lượng hóa rủi ro trước khi đầu tư.
Nếu có cơ chế sandbox và ưu tiên mua sắm công cho sản phẩm trong nước, doanh nghiệp sẽ có điều kiện thử nghiệm mà không phải tự gánh toàn bộ rủi ro.
Công nghệ không thể thay người vận hành
Chúng ta nói nhiều về AI, IoT, nhưng người trực tiếp vận hành máy móc vẫn là công nhân, kỹ thuật viên. Nếu chỉ đưa công nghệ xuống mà không thay đổi cách vận hành, dự án có thể thất bại?
Có. Kinh nghiệm thực tế cho thấy dự án tiết kiệm năng lượng chỉ bền vững khi gắn với người vận hành. Phải đào tạo định kỳ, quy định rõ việc tắt thiết bị khi không dùng, bảo dưỡng máy móc và đưa các yêu cầu này vào hệ thống quản lý năng lượng.
Công nghệ không tự tạo ra tiết kiệm nếu cách vận hành không thay đổi.
Ông đang nói đến việc có thể thưởng trực tiếp cho công nhân theo lượng điện tiết kiệm?
Có thể. Một số doanh nghiệp đã áp dụng thi đua, khen thưởng theo mức tiết kiệm. Nhưng phải đo được mức tiết kiệm theo từng công đoạn hoặc ca vận hành. Khi phần thưởng gắn với hành vi cụ thể, người lao động mới thấy rõ lợi ích từ việc tắt máy, giảm hao hụt.
Như vậy, công nghệ có phải là chìa khóa để tiết kiệm năng lượng?
Công nghệ chỉ là một phần. Muốn hiệu quả giữ được lâu, doanh nghiệp phải đồng thời giải quyết vốn, đo lường, quản lý và động lực của người vận hành.
Chỉ mua thiết bị mới, lắp điện mặt trời hay đưa phần mềm vào nhà máy mà giữ nguyên cách vận hành thì không thể tạo ra hiệu quả bền vững.
Xin cám ơn ông về cuộc chia sẻ này!













