Tìm giải pháp cân bằng phát triển đô thị và bảo tồn hệ sinh thái biển

Hội nghị WNICBR lần thứ 13 tại Thành phố Hồ Chí Minh thúc đẩy hợp tác quốc tế, tìm giải pháp phát triển đô thị bền vững gắn với bảo tồn hệ sinh thái biển và ứng phó biến đổi khí hậu.

Rừng ngập mặn Cần Giờ trở thành Khu Dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận vào năm 2000. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Rừng ngập mặn Cần Giờ trở thành Khu Dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận vào năm 2000. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Sáng 6/11, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 13 Mạng lưới các Khu dự trữ sinh quyển thế giới ven biển và hải đảo (WNICBR) đã khai mạc với chủ đề “Cân bằng phát triển đô thị với phát triển bền vững môi trường tại các Khu dự trữ sinh quyển ven biển và hải đảo.”

Hội nghị tập trung trao đổi kinh nghiệm, thúc đẩy hợp tác quốc tế, tìm kiếm giải pháp hài hòa giữa phát triển đô thị, kinh tế với bảo tồn hệ sinh thái và ứng phó biến đổi khí hậu.

Phát biểu khai mạc, ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhấn mạnh trước những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học và áp lực đô thị hóa, cần có cách tiếp cận phát triển mới, trong đó bảo tồn thiên nhiên không đối lập với tăng trưởng kinh tế mà phải trở thành nền tảng của sự thịnh vượng bền vững.

Sau khi mở rộng không gian phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích trên 6.700 km2, dân số hơn 14 triệu người, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, đô thị và kinh tế biển, đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn hơn trong bảo vệ môi trường, gìn giữ các hệ sinh thái tự nhiên.

Ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Đặc biệt, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, được UNESCO công nhận năm 2000, là tài sản thiên nhiên vô giá, có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ biển và duy trì sinh kế cộng đồng.

Thành phố định hướng phát triển Cần Giờ trở thành không gian đô thị biển xanh, thông minh, thân thiện với môi trường, gắn với bảo tồn hệ sinh thái, phát triển du lịch sinh thái và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Ông Bùi Minh Thạnh nhấn mạnh giá trị của một đô thị hiện đại không chỉ nằm ở những công trình được xây dựng, mà còn ở những giá trị thiên nhiên được gìn giữ cho các thế hệ tương lai; đồng thời, khẳng định Thành phố Hồ Chí Minh kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, lấy bảo tồn thiên nhiên làm nền tảng kiến tạo mô hình phát triển xanh, có trách nhiệm và bền vững.

Lãnh đạo thành phố đề xuất ba định hướng hợp tác trọng tâm gồm: thúc đẩy mô hình phát triển hài hòa giữa đô thị và thiên nhiên, bảo đảm các hoạt động kinh tế, đô thị, du lịch tôn trọng sức chịu tải của hệ sinh thái; phát huy khoa học, công nghệ và tài chính xanh trong bảo tồn thông qua hợp tác nghiên cứu, chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ số, quan trắc hệ sinh thái và khai thác tiềm năng carbon xanh, carbon xanh dương; đặt con người, cộng đồng vào trung tâm của phát triển bền vững, gắn bảo tồn với kinh tế xanh, du lịch sinh thái và sinh kế lâu dài.

Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn hội nghị mở ra những cơ hội hợp tác thiết thực với UNESCO, các thành viên mạng lưới, cơ sở nghiên cứu và đối tác phát triển; đồng thời sẵn sàng phối hợp triển khai các sáng kiến phục hồi hệ sinh thái, quản lý dựa trên dữ liệu, phát triển sinh kế xanh và thích ứng biến đổi khí hậu.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Đánh giá ý nghĩa của hội nghị, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, cho biết Cần Giờ là địa điểm đặc biệt để tổ chức sự kiện. Sau chiến tranh, từ cuối những năm 1970, các tình nguyện viên đã bắt đầu trồng lại rừng ngập mặn, với cây giống được đưa từ Cà Mau.

Năm 2000, Cần Giờ trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam, tiếp sau đó là Cà Mau vào năm 2009. Việt Nam hiện có 12 khu dự trữ sinh quyển thế giới, đứng thứ hai Đông Nam Á về số lượng, trong đó có 7 khu ven biển và hải đảo, qua đó cho thấy vai trò quan trọng của mạng lưới đối với Việt Nam.

Được thành lập năm 2012, Mạng lưới các Khu dự trữ sinh quyển thế giới ven biển và hải đảo (WNICBR) kết nối các khu dự trữ sinh quyển trên các đảo và vùng ven biển, góp phần giải quyết những vấn đề ưu tiên về đại dương, quản lý vùng ven biển, quản lý đô thị và biến đổi khí hậu.

Mạng lưới có thể thúc đẩy nghiên cứu chung, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ bằng chứng khoa học, kiến thức bản địa và các phương pháp thực tiễn giữa các thành viên.

Nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa tri thức khoa học và chính sách thành kết quả cụ thể cho cộng đồng ven biển, hải đảo, ông Jonathan Wallace Baker đánh giá cao mục mục tiêu của Việt Nam mở rộng diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển, hướng tới khoảng 6% diện tích vùng biển quốc gia vào năm 2030; đồng thời cho rằng mạng lưới có thể hỗ trợ thông qua chia sẻ kinh nghiệm phục hồi hệ sinh thái biển và ven biển.

Tại Việt Nam, UNESCO đã triển khai các dự án tại Cù Lao Chàm, Cát Bà và Cần Giờ về rác thải biển, giáo dục đại dương. Ông Jonathan Wallace Baker kỳ vọng hội nghị sẽ xác định những hành động cụ thể, lộ trình hợp tác thiết thực, tạo thêm các mối liên kết và quan hệ đối tác giữa các khu dự trữ sinh quyển.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Dae-shin Kim, Giám đốc Viện Nghiên cứu Hallasan, tỉnh Jeju (Hàn Quốc), đại diện Ban Thư ký WNICBR cho biết mạng lưới ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều khu dự trữ sinh quyển, hoạt động trao đổi và hợp tác giữa các thành viên ngày càng tích cực.

Thực tế, Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) của UNESCO đã ghi nhận WNICBR là hình mẫu cho các mạng lưới chuyên đề khác.

Các khu vực hải đảo và ven biển trên thế giới đang ngày càng gắn kết để cùng giải quyết những thách thức chung, nhất là giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và phục hồi hệ sinh thái.

Theo ông Dae-shin Kim, các thành viên cần tập hợp kinh nghiệm, tri thức và chuyển hóa thành hành động cụ thể. Jeju sẽ tiếp tục phối hợp với UNESCO, Ban Thư ký Menorca và các khu dự trữ sinh quyển thành viên nhằm thúc đẩy mạng lưới phát triển.

Trưng bày sản phẩm nông nghiệp tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới của Việt Nam trong khuôn khổ hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Trưng bày sản phẩm nông nghiệp tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới của Việt Nam trong khuôn khổ hội nghị. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Hội nghị lần thứ 13 Mạng lưới các Khu dự trữ sinh quyển thế giới ven biển và hải đảo (WNICBR) sẽ diễn ra trong hai ngày 6-7/11 với các phiên chuyên đề về kinh tế xanh, sinh kế bền vững, kinh tế tuần hoàn, quản lý tài nguyên, quản trị khu dự trữ sinh quyển, chính sách phát triển và thị trường carbon. Hội nghị dự kiến thông qua Tuyên bố chung, xác định định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Dịp này, Ban Tổ chức cũng đã tổ chức triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm quan hệ hợp tác UNESCO-Việt Nam với chủ đề “Các Khu dự trữ sinh quyển Việt Nam - Sống hài hòa với thiên nhiên;” trưng bày sản phẩm nông nghiệp tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới của Việt Nam.

Ngày 8/11, các đại biểu sẽ tham quan thực địa tại Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ./.

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/tim-giai-phap-can-bang-phat-trien-do-thi-va-bao-ton-he-sinh-thai-bien-post1146576.vnp