Tìm tiếng nói chung bảo vệ tài sản trí tuệ trên không gian mạng

Trên không gian mạng, các tài sản trí tuệ thuộc nhóm quyền tác giả gồm phần mềm và nội dung số thường bị xâm phạm, do dễ sao chép và phát tán.

Vi phạm bản quyền bị xử lý hình sự

Những tháng gần đây, anh Phan Anh Vũ, chủ một cửa hàng kinh doanh máy tính tại Cầu Giấy, Hà Nội cho biết, doanh số bán hàng đã sụt giảm rõ rệt. Nguyên nhân đến từ việc khách hàng e dè trước mức giá để sở hữu một máy tính cá nhân tăng cao, khi buộc phải cài đặt các phần mềm, ứng dụng bản quyền.

Trước đó, vào tháng 6/2026, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã khởi tố vụ án hình sự liên quan đến 5 giám đốc và nhân viên kỹ thuật vì tội xâm phạm quyền tác giả đối với hệ điều hành Windows và bộ ứng dụng Microsoft Office.

Theo hồ sơ, các đối tượng đã sử dụng công cụ bẻ khóa cài đặt lên khoảng 53.000 máy tính bán ra thị trường, thu về 450 tỷ đồng. Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, hành vi vi phạm bản quyền phần mềm bị xử lý hình sự thay vì chỉ dừng ở mức phạt hành chính.

Đánh giá về những diễn biến này, ông Bùi Minh Hùng, nguyên Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Chủ tịch Hiệp hội sáng tạo và bản quyền tác giả Việt Nam cho biết, hệ thống pháp luật của Việt Nam về sở hữu trí tuệ cơ bản đã đầy đủ và tương thích với các điều ước quốc tế từ khi gia nhập WTO năm 2007. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm vẫn phức tạp, đặc biệt trên môi trường số.

Theo ông Hùng, nguyên nhân không ở khung pháp lý, mà nằm ở việc thực thi và ý thức tự bảo vệ của chủ sở hữu. Hiện nay, việc sao chép, lan truyền các tài sản trí tuệ trên không gian mạng diễn ra rất nhanh, nhất là với sự tham gia của trí tuệ nhân tạo (AI).

Trong khi đó, nhiều tác giả và chủ sở hữu quyền tài sản trí tuệ khi bị xâm phạm thường chỉ dừng lại ở việc than phiền, mà không làm hồ sơ, đơn từ khiếu nại gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ông Bùi Minh Hùng, nguyên Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Chủ tịch Hiệp hội sáng tạo và bản quyền tác giả Việt Nam. Ảnh: Hoàng Anh

Ông Bùi Minh Hùng, nguyên Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Chủ tịch Hiệp hội sáng tạo và bản quyền tác giả Việt Nam. Ảnh: Hoàng Anh

"Một thanh tra xuất bản từng chia sẻ với tôi rằng, báo chí đã nêu rất nhiều vụ vi phạm, nhưng cơ quan chức năng chỉ nhận được 5 hồ sơ khiếu nại chính thức. Do đó, chủ sở hữu phải là người tự bảo vệ mình đầu tiên, bởi việc cung cấp bằng chứng cho cơ quan chức năng hiện đang rất hạn chế", ông Hùng nhấn mạnh.

Ngoài ra, vị chuyên gia cho rằng, chế tài xử phạt hiện chưa đủ sức răn đe, trong khi lợi nhuận từ việc sao chép lậu lại quá lớn, khiến các vi phạm liên tục tái diễn.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam, "tài sản trí tuệ" được chia làm ba nhóm chính:

- Nhóm thứ nhất là quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm các phần mềm máy tính, ứng dụng điện thoại, sách báo, các bài hát, phim ảnh và các bản ghi âm, biểu diễn.

- Nhóm thứ hai là quyền sở hữu công nghiệp, thể hiện qua logo thương hiệu (nhãn hiệu), kiểu dáng bao bì sản phẩm, các sáng chế kỹ thuật và bí mật kinh doanh của công ty.

- Nhóm thứ ba là quyền đối với giống cây trồng.

Thực trạng tài sản trí tuệ

Các hành vi vi phạm tài sản trí tuệ trên không gian mạng đang đặt ra nhiều thách thức. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết tháng 5/2026, trên cả nước đã phát hiện 2.036 vụ việc có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trong đó, 1.616 vụ đã bị xử lý hành chính với tổng số tiền xử phạt gần 17,9 tỷ đồng. Trị giá hàng hóa vi phạm bị xử lý lên tới hơn 115,5 tỷ đồng. Có trên 1.600 tổ chức, cá nhân bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong môi trường số, các tài sản thuộc nhóm quyền tác giả (đặc biệt là phần mềm và nội dung số) là đối tượng bị xâm phạm phổ biến nhất, do dễ sao chép và phát tán.

Theo báo cáo từ Media Partners Asia, vi phạm bản quyền video trực tuyến tại Việt Nam được dự báo sẽ gây thiệt hại 456 triệu USD và có khoảng 19,5 triệu người dùng nội dung lậu vào năm 2027 nếu không được kiểm soát tốt.

Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ BROSS và cộng sự cho hay, bên cạnh các yếu tố xâm phạm tới từ bên ngoài và có chủ đích, thì dấu hiệu xâm phạm từ chính người nội bộ cũng là vấn đề gây nhức nhối.

Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ BROSS và cộng sự. Ảnh: Hoàng Anh

Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ BROSS và cộng sự. Ảnh: Hoàng Anh

Theo ông, hiện nay bất kỳ sản phẩm nào của doanh nghiệp cũng là kết quả đồng sáng tạo của nhiều thành viên, từ nhân viên, nhà tư vấn cho đến việc sử dụng công cụ AI.

Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp chưa có thỏa thuận dân sự rõ ràng về quyền khai thác các sáng tạo này. Khi một ý tưởng được tạo ra trong một dự án, nó có thể mang lại giá trị lớn nếu được ứng dụng cho các dự án tiếp theo.

Nếu hợp đồng lao động hoặc hợp đồng tư vấn không quy định rõ doanh nghiệp được quyền sử dụng các ý tưởng đó trong phạm vi nào, các tranh chấp pháp lý trong tương lai sẽ nảy sinh khi có người đòi lại quyền lợi đóng góp.

Từ góc độ thực tiễn của doanh nghiệp, bà Lê Thị Minh Hằng, Giám đốc Trung tâm quyền và giải pháp tài sản số nhận định, các doanh nghiệp đang bỏ quên rất nhiều tài sản vô hình như: dữ liệu khách hàng, hình ảnh, hay giọng nói.

Khi các khung pháp lý ngày một hoàn thiện, việc sử dụng trái phép chỉ một hình ảnh hay giọng nói trên mạng cũng có thể dẫn đến dấu hiệu vi phạm.

"Nhiều khi người dùng muốn tiếp cận tác phẩm hợp pháp, nhưng lại không biết tìm ở đâu, hoặc biết tác giả rồi nhưng không biết cách xin phép hay nộp tiền bản quyền như thế nào", bà Hằng nói. Sự thiếu vắng các nền tảng kết nối minh bạch khiến nhiều người vô tình vi phạm, hoặc gặp khó trong việc tuân thủ pháp luật.

Đi tìm tiếng nói chung

Để giải quyết tình trạng trên, các chuyên gia thống nhất rằng, việc bảo vệ tài sản trí tuệ phải bắt đầu từ ý thức quản trị nội bộ và ứng dụng công nghệ để lưu vết chứng cứ.

Luật sư Lê Quang Vinh khuyến nghị, các doanh nghiệp ngay từ khâu tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng tư vấn phải quy định chi tiết về phạm vi sử dụng các ý tưởng sáng tạo.

Đặc biệt, trong bối cảnh sử dụng AI, quá trình tạo ra sản phẩm (từ các câu lệnh giao tiếp với AI) phải được lưu trữ. Đây chính là bằng chứng pháp lý quan trọng để chứng minh quyền sở hữu, hoặc quyền phát triển các ý tưởng đó thành sản phẩm thương mại khi xảy ra tranh chấp.

Bà Lê Thị Minh Hằng, Giám đốc Trung tâm quyền và giải pháp tài sản số. Ảnh: Hoàng Anh

Bà Lê Thị Minh Hằng, Giám đốc Trung tâm quyền và giải pháp tài sản số. Ảnh: Hoàng Anh

Đồng tình với quan điểm trên, bà Lê Thị Minh Hằng cho rằng, các doanh nghiệp cần thiết lập ngay bộ quy tắc quản lý tài sản trí tuệ và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định mới của pháp luật. Bà khuyến nghị các tác giả và doanh nghiệp nên đưa tài sản trí tuệ của mình lên các nền tảng số có khả năng định danh và xác thực.

"Ngay cả khi cho phép người khác sử dụng tác phẩm miễn phí, chúng ta cũng phải thao tác trên nền tảng số để lưu vết chứng cứ pháp lý, tránh tình trạng tranh chấp về sau", bà Hằng nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Bùi Minh Hùng đề xuất, các tác giả có thể cân nhắc việc gửi gắm tài sản của mình cho các tổ chức đại diện tập thể quản lý quyền. Điều này giúp họ có tư cách pháp lý để đứng ra bảo vệ tác giả khi có vi phạm.

Đối với các doanh nghiệp, ông Hùng đặc biệt lưu ý việc xây dựng quy chế quản lý hệ thống máy tính nội bộ. Doanh nghiệp chỉ nên cài đặt các phần mềm đã mua bản quyền và phục vụ trực tiếp cho công việc, tránh tình trạng cài đặt tràn lan.

Việt Hưng

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/tim-tieng-noi-chung-bao-ve-tai-san-tri-tue-tren-khong-gian-mang-d47128.html