Tính hành động của Văn kiện với 'Chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội XIV' là đột phá

Một trong những thước đo quan trọng nhất đối với chất lượng, sức sống và giá trị thực tiễn của Văn kiện Đại hội Đảng chính là 'tính hành động'.

Tính hành động không dừng lại ở việc xác định đúng mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, mà quan trọng hơn là khả năng tổ chức thực thi nhanh, đồng bộ, quyết liệt, có trọng tâm - trọng điểm, có kiểm tra - giám sát, có đánh giá - tổng kết, bảo đảm “nói đi đôi với làm”, “làm đến nơi đến chốn”.

Các đại biểu Đoàn thành phố Hà Nội tham dự Đại hội. Ảnh: Văn Điệp

Các đại biểu Đoàn thành phố Hà Nội tham dự Đại hội. Ảnh: Văn Điệp

Tính đột phá trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV

Cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định tính hành động của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, khi được cụ thể hóa bằng “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV”, sẽ tạo nên một đặc trưng nổi bật mang tính chỉ đạo xuyên suốt: Đột phá (đột phá trong tư duy, thể chế, tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, phương thức lãnh đạo, điều hành và chất lượng thực thi).

Trong khoa học lãnh đạo và quản trị, bất kỳ chiến lược nào nếu không chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, không xác lập cơ chế thực thi rõ ràng, không lượng hóa mục tiêu, không phân định trách nhiệm và không kiểm soát tiến độ, đều sẽ rơi vào tình trạng “hay trên giấy” nhưng “yếu trong đời sống”. Vì vậy, tính hành động của Văn kiện không phải yếu tố phụ trợ, mà là yếu tố quyết định sức chiến đấu của đường lối.

Văn kiện Đại hội XIV, với yêu cầu tổ chức thực hiện theo tinh thần quyết liệt, khẩn trương, bài bản, đồng bộ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV” đủ mạnh, đủ rõ, đủ khả thi, đủ kiểm soát và đủ thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chương trình hành động không đơn thuần là bản “kế hoạch hóa” văn bản, mà phải trở thành cơ chế chuyển trạng thái: Từ tư duy chiến lược sang hành động thực tiễn; từ mục tiêu dài hạn sang kết quả từng quý, từng năm; từ khát vọng phát triển sang năng lực thực thi của hệ thống chính trị.

Từ góc nhìn đó, có thể khẳng định: Đặc trưng nổi bật của tính hành động trong Văn kiện, khi được thể chế hóa bằng Chương trình hành động, chính là đột phá. “Đột phá” ở đây không phải khẩu hiệu, mà là một hệ thống giải pháp có tính cấu trúc, có tính cơ chế, có tính dẫn dắt và tạo ra kết quả đo đếm được.

Nhận diện “tính hành động” như một phạm trù khoa học trong lãnh đạo - quản trị

Tính hành động của Văn kiện có thể được hiểu là mức độ mà Văn kiện tạo ra năng lực tổ chức thực thi để đạt mục tiêu đề ra. Về bản chất, “tính hành động” được cấu thành bởi các thành tố:

Một là, mục tiêu rõ - nhiệm vụ đúng - giải pháp trúng. Văn kiện không chỉ xác định cái đích, mà phải chỉ rõ con đường đi tới đích và nguồn lực để đi.

Hai là, cơ chế thực hiện cụ thể. Nói cách khác, Văn kiện phải “có người làm, có việc làm, có thời hạn làm, có tiêu chuẩn đánh giá, có chế tài”.

Ba là, phân cấp - phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Tính hành động càng cao khi quyền hạn đi cùng trách nhiệm; kết quả đi cùng đánh giá; trách nhiệm đi cùng kỷ luật.

Bốn là, tổ chức bộ máy tinh gọn, thông suốt. Không thể đòi hỏi hành động nhanh nếu bộ máy còn tầng nấc, đứt gãy, chồng chéo.

Năm là, phương thức lãnh đạo khoa học, điều hành linh hoạt, quản trị hiệu quả. Chương trình hành động phải trở thành công cụ điều hành quốc gia, chứ không chỉ là văn bản triển khai.

Từ đó, có thể xác định một nguyên lý: Tính hành động càng mạnh thì yêu cầu đột phá càng cao; ngược lại, chỉ khi tạo ra các đột phá thực chất mới có thể tăng tốc tổ chức thực hiện.

Đột phá” là mạch sống của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV nếu chỉ dừng ở việc “phân rã” nhiệm vụ thành danh mục công việc thì mới là “kế hoạch hóa”. Muốn trở thành động lực phát triển, Chương trình hành động cần được thiết kế theo tư duy “đột phá”, thể hiện ở 5 chiều kích lớn sau:

Thứ nhất, đột phá về tư duy hành động, từ “đúng” sang “nhanh, hiệu quả, đo được”: Thực tiễn nhiều năm cho thấy, điểm nghẽn không chỉ là “chưa đúng”, mà còn là “đúng nhưng chậm”, “đúng nhưng dàn trải”, “đúng nhưng thiếu cơ chế thúc đẩy”. Do đó, yêu cầu mới đặt ra là chuyển từ tư duy “ban hành nghị quyết” sang tư duy “quản trị kết quả”.

Chương trình hành động phải đặt ra các nguyên tắc triển khai rõ ràng: Việc nào cấp trên làm, việc nào cấp dưới làm; việc nào ưu tiên 6 tháng đầu, việc nào ưu tiên 12 tháng đầu; việc nào tạo hiệu quả lan tỏa lớn; việc nào không hiệu quả thì dừng hoặc điều chỉnh ngay. Từ đó hình thành năng lực điều hành theo “nhịp độ cải cách”, tạo ra xung lực hành động liên tục, tránh tình trạng “đầu nhiệm kỳ rầm rộ, giữa nhiệm kỳ chững, cuối nhiệm kỳ tổng kết”.

Thứ hai, đột phá về thể chế: Biến chủ trương thành luật lệ, biến quyết tâm thành quy tắc (thể chế là “đường ray” của phát triển). Không có thể chế mạnh, mọi quyết tâm dễ bị triệt tiêu bởi thói quen quản lý cũ, bởi lợi ích cục bộ, bởi tâm lý “sợ trách nhiệm”. Vì vậy, đột phá thể chế phải là trục xuyên suốt của Chương trình hành động.

Đột phá thể chế được thể hiện ở ba yêu cầu: Tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn pháp lý đang kìm hãm đổi mới sáng tạo, đầu tư phát triển, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho phân cấp - phân quyền, gắn trách nhiệm cá nhân và chế tài xử lý. Chuẩn hóa quy trình quyết định chính sách theo bằng chứng, giảm cảm tính, giảm vòng lặp thủ tục.

Một Chương trình hành động “đột phá” không chấp nhận tình trạng “chủ trương đúng nhưng không đi được vào cuộc sống vì thiếu cơ chế”, mà phải đặt mục tiêu rõ: Mỗi nhiệm vụ lớn đều có đường đi pháp lý tương ứng.

Thứ ba, đột phá về tổ chức bộ máy: Tinh - gọn - mạnh - thông - hiệu quả (tính hành động muốn cao trước hết phải có bộ máy hành động tốt). Thực thi Nghị quyết Đại hội XIV, xét đến cùng, là vận hành tổng lực của hệ thống chính trị. Vì vậy, một trong những đột phá trọng yếu là tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ và thông suốt.

Chương trình hành động phải giải quyết đồng thời 4 vấn đề: Giảm tầng nấc trung gian, giảm tình trạng “quyết định đi một vòng mới đến nơi”. Xóa bỏ chồng chéo chức năng, quy trách nhiệm đến đúng chủ thể. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành thực chất, tránh hình thức. Gắn cải cách bộ máy với cải cách thủ tục, đặc biệt trong quản trị công và quản trị dịch vụ công. Điểm đột phá là chuyển từ “cơ cấu đủ ban bệ” sang “cơ cấu đủ năng lực”, từ “quy trình đủ chặt” sang “quy trình đủ nhanh và an toàn”.

Thứ tư, đột phá về công tác cán bộ: Chọn đúng người - giao đúng việc - đo đúng kết quả (trong mọi hệ thống, con người là yếu tố quyết định). Chương trình hành động muốn tạo chuyển động thực chất phải chạm tới “điểm tựa cán bộ”. Đột phá công tác cán bộ không chỉ là tuyển chọn, bố trí, đề bạt; quan trọng hơn là kiến tạo cơ chế buộc cán bộ hành động vì mục tiêu chung, chịu trách nhiệm đến cùng.

Chương trình hành động cần làm rõ: Tiêu chuẩn cán bộ theo vị trí việc làm, theo năng lực thực thi nhiệm vụ trong môi trường mới. Cơ chế đánh giá theo sản phẩm đầu ra, thay vì theo hồ sơ, quy trình. Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm cán bộ né tránh, đùn đẩy, vô cảm trước yêu cầu phát triển. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương gắn với kiểm soát quyền lực. Đột phá ở đây là chuyển trọng tâm từ “đủ điều kiện” sang “đủ năng lực”; từ “không sai” sang “tạo ra kết quả”; từ “an toàn cá nhân” sang “hiệu quả công vụ”.

Thứ năm, đột phá về phương thức thực thi: Kỷ luật tiến độ, quản trị theo mục tiêu, giám sát theo dữ liệu (một chương trình hành động mang tinh thần đột phá phải có “công nghệ quản trị” của riêng nó). Đó là cơ chế bảo đảm cho các nhiệm vụ không bị trì hoãn, không bị làm hình thức, không bị “đẩy lên - kéo xuống”.

Chương trình hành động cần được thiết kế với các cấu phần quản trị hiện đại: Bảng mục tiêu - nhiệm vụ - tiến độ theo tháng/quý/năm. Cơ chế họp giao ban kiểm điểm tiến độ với tiêu chí rõ, không chung chung. Hệ thống giám sát bằng dữ liệu (chuyển đổi số trong điều hành). Cơ chế cảnh báo sớm và điều chỉnh linh hoạt. Truyền thông chính sách minh bạch, tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin nhân dân. Đột phá của phương thức thực thi nằm ở sự thay đổi căn bản: Quản lý không chỉ bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng quản trị mục tiêu và kết quả, có công cụ kiểm chứng và trách nhiệm giải trình.

Chương trình hành động “đột phá” phải tạo ra những sản phẩm cụ thể nào?

Để tính hành động không bị “mờ hóa” trong quá trình triển khai, Chương trình hành động cần kết tinh thành những “sản phẩm” rõ ràng. Có thể khái quát thành 6 nhóm:

Một là, hệ thống mục tiêu định lượng theo giai đoạn (ngắn hạn - trung hạn - dài hạn).

Hai là, danh mục nhiệm vụ trọng tâm có ưu tiên (không dàn hàng ngang).

Ba là, các đề án đột phá cấp quốc gia về thể chế, nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh.

Bốn là, cơ chế phân công trách nhiệm cá nhân gắn kiểm điểm định kỳ.

Năm là, bộ chỉ số đánh giá kết quả thực thi (KPI công vụ và KPI phát triển).

Sáu là, cơ chế kiểm tra - giám sát - tổng kết thực tiễn để liên tục điều chỉnh chính sách.

Nếu không có sản phẩm cụ thể, Chương trình hành động sẽ dễ rơi vào “văn bản hóa”, thiếu động lực và thiếu khả năng kiểm soát.

Những yêu cầu bảo đảm để “đột phá” trở thành thực tế

Điều cần nhận thấy, đột phá không tự nhiên xuất hiện. Nó cần điều kiện bảo đảm đủ mạnh, ít nhất cần có bốn yêu cầu:

Một là, thống nhất cao về ý chí hành động: Mọi cấp, mọi ngành phải coi tổ chức thực hiện Nghị quyết là nhiệm vụ chính trị trung tâm, là thước đo năng lực lãnh đạo và quản trị.

Hai là, đề cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và kỷ luật Đảng: Kỷ luật là “đường viền đỏ” bảo đảm hành động không bị phá vỡ bởi trì trệ, né tránh, lợi ích nhóm.

Ba là, lấy nhân dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ: Đột phá phải được cảm nhận bằng kết quả cụ thể trong đời sống (thủ tục đơn giản hơn, dịch vụ tốt hơn, môi trường đầu tư thuận lợi hơn, cơ hội phát triển rõ ràng hơn).

Bốn là, tổng kết thực tiễn - phát triển lý luận: Thực tiễn là thước đo chân lý. Chương trình hành động phải gắn với cơ chế tổng kết để kịp thời bổ sung, hoàn thiện, tránh “cứng hóa” trong điều kiện biến động nhanh.

Tính hành động của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ thực sự phát huy đầy đủ khi được cụ thể hóa bằng một “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV” có thiết kế khoa học, cơ chế rõ ràng, phân công minh bạch, tiến độ nghiêm ngặt và giám sát hiệu quả. Điểm nhấn bản chất của tính hành động ấy không chỉ là quyết tâm, mà là năng lực tổ chức thực hiện. Và chính ở đây, đặc trưng nổi bật nhất, xuyên suốt nhất, có ý nghĩa tạo chuyển biến rõ rệt nhất chính là: Đột phá.

Đột phá trong tư duy hành động; đột phá trong thể chế; đột phá trong tổ chức bộ máy; đột phá trong công tác cán bộ; đột phá trong phương thức thực thi và quản trị quốc gia. Đột phá để vượt qua điểm nghẽn, đột phá để tạo động lực mới, đột phá để hiện thực hóa khát vọng phát triển, đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chương trình hành động, vì thế, không chỉ là một văn bản triển khai Nghị quyết, mà phải trở thành mệnh lệnh hành động của cả hệ thống chính trị, là lời cam kết trước nhân dân về tinh thần “nói ít - làm nhiều”, “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn”, góp phần làm nên thắng lợi toàn diện của nhiệm kỳ Đại hội XIV.

Thiếu tướng, PGS. TS Nguyễn Văn Sáu - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tinh-hanh-dong-cua-van-kien-voi-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-la-dot-pha-731014.html