Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn miễn, giảm hình phạt trong xét xử về đất đai

Mới đây, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội.

Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao. (Ảnh: Tòa án nhân dân tối cao)

Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao. (Ảnh: Tòa án nhân dân tối cao)

Được xét miễn trách nhiệm hình sự nếu đủ điều kiện

Theo hướng dẫn, nếu vụ việc đã được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù nhưng người có hành vi vi phạm vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án xem xét áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP để giải quyết, xét xử nếu có đủ căn cứ.

Tại phiên tòa, nếu xét thấy bị cáo có đủ căn cứ thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 5 và Điều 7 của Nghị quyết số 29/2026/QH16, Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tòa án có thể căn cứ vào các văn bản, tài liệu của Chính phủ, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác để quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo. Tuy nhiên, các tài liệu này phải làm rõ vụ án, vụ việc là vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng và xảy ra trước ngày 1/8/2024.

Một nội dung quan trọng khác trong văn bản hướng dẫn là việc xác định hậu quả thiệt hại. Trường hợp hành vi vi phạm gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải xác định cụ thể hậu quả thiệt hại.

Nếu có mâu thuẫn hoặc chưa rõ về hậu quả thiệt hại giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án căn cứ kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc, nếu thấy cần thiết, yêu cầu định giá tài sản theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án còn xem xét các tài liệu xác định dự án, công trình được thực hiện vì mục đích phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cho địa phương, đất nước; mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại cũng như tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan.

Xét tạm đình chỉ phiên tòa nếu có thể khắc phục được hậu quả

Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn cụ thể việc tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo hoặc hoãn phiên tòa trong trường hợp người vi phạm chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu bị can, bị cáo có đủ căn cứ thuộc trường hợp quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Tại phiên tòa, căn cứ khả năng khắc phục hậu quả và đề nghị của bị cáo, Hội đồng xét xử có thể hoãn phiên tòa không quá 30 ngày nếu có căn cứ xác định trong thời gian này bị cáo, tổ chức hoặc cá nhân liên quan có thể khắc phục được hậu quả thiệt hại.

Nếu xét thấy không có khả năng khắc phục hậu quả trong thời hạn 30 ngày nhưng vẫn có khả năng khắc phục về sau, Hội đồng xét xử có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.

Tòa án căn cứ vào các tài liệu liên quan tình trạng và khả năng khắc phục hậu quả của dự án, công trình để xem xét ban hành các quyết định này.

Trường hợp chưa thể khắc phục do nguyên nhân khách quan, bị can, bị cáo, tổ chức hoặc cá nhân liên quan phải có bản giải trình, nêu rõ nguyên nhân và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Đồng thời, người có liên quan phải có bản cam kết khắc phục hậu quả, kèm tài liệu chứng minh khả năng thực hiện, phương án, lộ trình, biện pháp và thời hạn hoàn thành việc khắc phục.

Nếu trong thời hạn tạm đình chỉ, hậu quả thiệt hại được khắc phục toàn bộ, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo. Nếu hết thời hạn tạm đình chỉ mà hậu quả chưa được khắc phục toàn bộ, Tòa án phục hồi vụ án để tiếp tục giải quyết, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với trường hợp hoãn phiên tòa, nếu trong thời hạn hoãn đã khắc phục được toàn bộ hậu quả, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án. Nếu hết thời hạn hoãn mà chưa khắc phục được toàn bộ nhưng có căn cứ xác định vẫn có khả năng khắc phục, Tòa án có thể tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.

Tỷ lệ giảm mức hình phạt tương ứng với mức độ khắc phục hậu quả

Nghị quyết cũng quy định cụ thể mức giảm hình phạt trong trường hợp bị cáo chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại.

Theo đó, căn cứ hiệu quả kinh tế-xã hội đối với địa phương, đất nước và mức độ khắc phục hậu quả tại thời điểm xét xử, Tòa án xem xét giảm mức hình phạt tương ứng với tỷ lệ khắc phục hậu quả.

Cụ thể, người đã khắc phục đến một phần tư hậu quả thiệt hại có thể được giảm tối đa đến một phần tư mức hình phạt.

Trường hợp đã khắc phục từ trên một phần tư đến một phần hai hậu quả thiệt hại, mức giảm có thể tối đa đến một phần hai mức hình phạt.

Nếu đã khắc phục từ trên một phần hai đến ba phần tư hậu quả thiệt hại, mức giảm có thể tối đa đến hai phần ba mức hình phạt.

Trường hợp đã khắc phục từ trên ba phần tư nhưng chưa khắc phục toàn bộ hậu quả, mức giảm có thể tối đa đến bốn phần năm mức hình phạt.

Các mức trên là mức giảm tối đa được Nghị quyết hướng dẫn; việc quyết định mức giảm cụ thể vẫn phải căn cứ vào các điều kiện và tình tiết của từng vụ án.

Đối với người đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đang chấp hành hình phạt tù, Nghị quyết cũng quy định cơ chế hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, miễn chấp hành hình phạt hoặc giảm mức hình phạt đã tuyên nếu đáp ứng đủ điều kiện.

Người đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện áp dụng cơ chế đặc thù nhưng không có điều kiện khắc phục hậu quả có thể được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, nhưng mức giảm tối đa không quá một phần tư mức hình phạt đã tuyên.

Ngược lại, người có khả năng, điều kiện để khắc phục hậu quả nhưng không thực hiện thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo cơ chế đặc thù của Nghị quyết số 29/2026/QH16.

Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP còn quy định người đã chấp hành xong bản án và thuộc một số trường hợp có thể được Tòa án xem xét, quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.

Mức giảm thời hạn để xóa án tích được xác định bằng một phần hai thời hạn tương ứng với thời hạn đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Người thuộc diện được xem xét phải gửi đơn đề nghị và tài liệu chứng minh đến Tòa án đã ra quyết định thi hành án.

H.NGUYÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/toa-an-nhan-dan-toi-cao-huong-dan-mien-giam-hinh-phat-trong-xet-xu-ve-dat-dai-post989478.html