TOÀN VĂN: Quyết định 309/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030 - 2045
Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 309/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030 - 2045.
Xây chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm giá trị gia tăng cao
Quyết định số 309/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có hiệu lực từ ngày 23/2/2026 đặt mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm giá trị gia tăng cao.
Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
3 giai đoạn mục tiêu phát triển ngành sữa
Giai đoạn đến năm 2030:
- Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 12,0% -14,0%/năm.
- Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm.
- Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm.
- Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 60% - 65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.
- Sữa bột tăng trưởng khoảng 7,0% - 8,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 245 nghìn tấn/năm.
- Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 40 lít/người/năm.
Giai đoạn đến năm 2035:
- Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 10,0% -12,0%/năm.
- Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 6.200 triệu lít/năm.
- Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 4.500 triệu lít/năm.
- Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 70% - 75% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.
- Sữa bột tăng trưởng khoảng 5,0% - 6,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 310 nghìn tấn/năm.
- Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 60 lít/người/năm.
Tầm nhìn đến năm 2045:
- Tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5,0% - 6,0%/năm.
- Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm.
- Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm.
- Sữa bột tăng trưởng khoảng 3,0% - 4,0% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm.
- Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm.
- Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 80% - 85% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.
Định hướng phát triển doanh nghiệp ngành sữa
- Tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Tái cơ cấu tổ chức, hướng tới hình thành tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa
Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu.
Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao.
Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến. Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.
Xây mạng lưới phân phối, tạo cơ hội quảng bá sản phẩm, kiểm soát chặt chất lượng sản phẩm
Để đạt được mục tiêu đề ra, Quyết định nêu nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ củng cố và phát triển thị trường trong nước, xuất khẩu.
a) Thị trường trong nước
- Tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại để có dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời về thị trường; từ đó, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong ngành nắm bắt được đầy đủ thông tin thịtrường phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Khuyến khích doanh nghiệp ngành sữa xây dựng mạng lưới phân phối; tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế để các doanh nghiệp có nhiều cơ hội giới thiệu, quảng bá sản phẩm cũng như hiểu rõ xu thế tiêu dùng của thị trường, đặc biệt là các thị trường mới;
Hỗ trợ một số hoạt động trong công tác mở rộng thị trường phân phối sản phẩm trên các địa bàn thành thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa và hải đảo.
Xây dựng hình ảnh sữa Việt Nam: an toàn, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh, đặc biệt chú trọng "Bữa ăn học đường có sữa tươi"
- Tăng cường cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường trong nước để chống hàng lậu, hàng kém chất lượng; quản lý về nội dung ghi nhãn mác, quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm sữa (nhất là sữa công thức cho trẻ em) tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong ngành, bảo đảm đúng pháp luật và đúng theo chuẩn quốc tế (WHO Code).
- Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” một cách hiệu quả để sản phẩm của ngành sữa có được thị trường nội địa bền vững. Theo đó, xây dựng hình ảnh sản phẩm sữa trong nước với các tính năng ưu việt như chất lượng cao, an toàn thực phẩm, giá cả cạnh tranh, phù hợp với điều kiện tiêu dùng, đặc biệt chú trọng sữa cho chương trình bữa ăn học đường có sữa tươi để phát triển thể chất người Việt.
b) Xuất khẩu sữa
- Tập trung nâng cao năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào phục vụ sản xuất chế biến, thị trường đầu ra sản phẩm ngành sữa, trong đó đặc biệt chú ý tới các thị trường mới, giàu tiềm năng.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phân tích nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng, tạo lợi thế cho ngành sữa Việt
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và tổ chức các kênh phân phối đa dạng kết hợp với thiết lập các chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài; khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm đối tác thương mại thông qua các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, các đoàn công tác của Chính phủ.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu, đặc biệt chú trọng tới nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của các thị trường tiềm năng lớn tạo cơ sở cho việc phát huy các lợi thế so sánh của ngành để làm ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của các thị trường.
Đối với các sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu về chất lượng khác với quy chuẩn Việt Nam thì phải thể hiện rõ sản phẩm được dành cho thị trường đó.
- Thiết lập hệ thống thông tin thị trường trong khu vực và toàn cầu, thông qua văn phòng đại diện Thương mại Việt Nam để có thể dự báo, cập nhật thường xuyên và nhanh chóng nhu cầu thị trường về sữa ở trong khu vực và trên thế giới.
Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp ngành sữa
- Nhà nước tập trung hỗ trợ và tạo điều kiện về cơ chế, chính sách để hình thành từ 3 đến 5 doanh nghiệp sữa hàng đầu có khả năng cạnh tranh quốc tế theo định hướng Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Các doanh nghiệp chủ động xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, trong đó chú trọng đến chiến lược phát triển sản phẩm, ưu tiên phát triển sản phẩm mới cho từng thị trường, đặc biệt là thị trường có sức tiêu thụ lớn nhằm đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp cũng như các điều kiện cam kết quốc tế.
Hỗ trợ tiêu thụ sữa nhằm tạo sinh kế cho người dân
- Phát triển các dự án tổ hợp trang trại bò sữa tập trung hỗn hợp chăn nuôi nông hộ theo mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trên nền tảng khép kín chuỗi giá trị ngành sữa.
Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm sữa và khoa học công nghệ chăn nuôi nhằm tạo sinh kế cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn.
- Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết trong hiệp định thương mại để tận dụng tối đa ưu thế của thị trường nhất là những thị trường mới; chú trọng xây dựng và phát triển rộng khắp hệ thống đại lý và tiêu thụ sản phẩm, phát huy vai trò của các chi nhánh nhằm tăng tính chủ động trong phân phối, kinh doanh sản phẩm.
- Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm đáp ứng nhanh nhu cầu tiêu dùng để không ngừng đưa ra thị trường sản phẩm mới, đa dạng về chủng loại, mẫu mã kết hợp nâng cao chất lượng nhằm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm và nâng cao vị thế của doanh nghiệp.
Tiếp tục tái cấu trúc doanh nghiệp: nâng cao chất lượng nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ,...
- Tiếp tục thực hiện quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp trong đó tập trung nhiều hơn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm sản lượng lớn, chất lượng cao.
- Triển khai áp dụng các bộ tiêu chuẩn trong quản lý và sản xuất, kết hợp với xây dựng, rà soát và có cơ chế giám sát chặt chẽ hệ thống các định mức chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cho việc hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tăng cường tính liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, bổ sung nguồn lực, giảm chi phí sản xuất, kinh doanh. Tham gia vào các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề để kết nối các doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
- Phát triển hạ tầng logistics lạnh và trung tâm thu gom, bảo quản sữa tươi để đảm bảo chất lượng sữa tươi nguyên liệu, tăng hiệu quả thu mua và giảm chi phí logistic, nâng cao năng lực sản xuất, chế biến, cung cấp tại chỗ các sản phẩm sữa tươi và sản phẩm sữa chế biến ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam.
TOÀN VĂN: Quyết định số 309/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.

























