Tổng Bí thư Hà Huy Tập - nhà lý luận xuất sắc của Đảng ta
Tổng Bí thư Hà Huy Tập thuộc lớp những chiến sĩ cộng sản tiền bối, giữ vai trò nòng cốt trong buổi đầu xây dựng và phát triển của Đảng. Dù thời gian hoạt động cách mạng không dài, nhưng bằng trí tuệ, bản lĩnh và sự dấn thân, đồng chí đã để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều phương diện, là một nhà lý luận xuất sắc của Đảng.

Phần mộ Tổng Bí thư Hà Huy Tập tại xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh. Ảnh Thu Hà.
Ngay từ nhỏ, Hà Huy Tập đã nổi bật với tư chất thông minh, hiếu học. Năm 1919, Hà Huy Tập thi đỗ thủ khoa và được vào học Trường Quốc học Huế - nơi đào tạo nhiều trí thức yêu nước. Năm 1923, sau khi tốt nghiệp Thành chung loại tú tài, đồng chí chọn nghề dạy học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Nha Trang.
Với tinh thần yêu nước, thái độ thẳng thắn lên án trước bất công, cường quyền, đồng chí sớm tham gia các hoạt động cách mạng, công khai phản đối chính quyền thực dân, bênh vực người dân bị áp bức. Chính điều đó khiến Hà Huy Tập trở thành “cái gai” trong mắt nhà cầm quyền và bị trục xuất khỏi Nha Trang năm 1926.
Trở ra Vinh (Nghệ An), Hà Huy Tập tiếp tục hoạt động trong tổ chức yêu nước Phục Việt (lúc này đổi tên thành Hưng Nam); tham gia tổ chức bãi khóa, tuyên truyền tinh thần yêu nước cho học sinh, thanh niên và kết nối phong trào cách mạng. Sau đó, đồng chí vào Sài Gòn, tham gia xây dựng Tân Việt Cách mạng Đảng (tên mới của tổ chức Hưng Nam), góp phần mở rộng ảnh hưởng và xây dựng cơ sở cách mạng tại Nam Kỳ. Sau khi xảy ra vụ án ở đường Bácbie (Sài Gòn), trước sự truy bắt gắt gao của thực dân Pháp, cuối năm 1928, đồng chí sang Trung Quốc, rồi được cử đi học tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) - trung tâm đào tạo cán bộ cách mạng quốc tế.
Trong thời gian từ năm 1929-1932, học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã có bước phát triển vượt bậc về tư duy lý luận theo học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đồng chí đã viết nhiều bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Bôn-sê-vích, phân tích sâu sắc tình hình cách mạng Đông Dương, thể hiện tầm nhìn sắc bén của một nhà lý luận trẻ tuổi. Những bài viết này không chỉ phản ánh thực tiễn phong trào mà còn góp phần khẳng định vị thế của cách mạng Việt Nam trong phong trào cộng sản quốc tế.

Bìa cuốn sách "Trotsky và phản cách mạng" của đồng chí Hà Huy Tập viết mang bút danh Thanh Hương (1937). Ảnh Báo Quân đội nhân dân.
Tháng 4/1932, sau khi hoàn thành khóa học tại Trường Đại học Phương Đông, nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hà Huy Tập lên đường về nước bằng đường thủy qua cảng Mác-xây (Pháp). Tuy nhiên, dự định đó không hoàn thành. Mới sang tới Pháp, Hà Huy Tập đã bị mật thám vây bắt, sau đó bị trục xuất sang Bỉ rồi trở lại Liên Xô.
Với quyết tâm trở về nước hoạt động, đến đầu năm 1933, đồng chí Hà Huy Tập được tổ chức bố trí bí mật về Quảng Tây (Trung Quốc), bắt liên lạc được với đồng chí Lê Hồng Phong và một số đồng chí đảng viên khác đang hoạt động ở Trung Quốc. Các đồng chí đã quyết định thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (tháng 3/1934) với nhiệm vụ chắp mối liên lạc với các tổ chức Đảng trong nước để khôi phục phong trào cách mạng.
Trong giai đoạn này, đồng chí Hà Huy Tập tiếp tục có những đóng góp đặc biệt trên mặt trận lý luận. Tác phẩm tiêu biểu “Sơ thảo lịch sử phong trào Cộng sản ở Đông Dương” (bút danh Hồng Thế Công, in năm 1933) là một công trình có giá trị lớn cả về lý luận và thực tiễn. Tác phẩm đã tổng kết quá trình hình thành, phát triển của phong trào cách mạng, phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng về tổ chức, phương pháp đấu tranh và xây dựng lực lượng. Đây không chỉ là tài liệu lịch sử quý mà còn là vũ khí sắc bén đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của chính quyền thực dân.
Đến tháng 3/1935, dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Huy Tập, Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương được tiến hành ở Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương mới; đồng chí Lê Hồng Phong được bầu vắng mặt làm Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài, kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Bôn-sê-vích - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Thành công của Đại hội lần thứ nhất đánh dấu Đảng ta đã được khôi phục về mặt tổ chức, khẳng định sức sống trường tồn và ý chí giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sơ lược cuộc đời hoạt động của cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập.
Tháng 7/1936, sau khi đồng chí Lê Hồng Phong từ Liên Xô trở về Thượng Hải đã cùng đồng chí Hà Huy Tập chủ trì Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2. Hội nghị tập trung quán triệt tinh thần Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và đưa ra thảo luận về “Chiến sách mới” của Đảng. Tại hội nghị này, đồng chí Hà Huy Tập được phân công phụ trách công tác Đảng trong nước (thực chất là đảm trách chức vụ Tổng Bí thư); đồng chí Lê Hồng Phong được phân công làm Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng.
Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập cùng Trung ương Đảng đề ra nhiều chủ trương chiến lược phù hợp với tình hình mới như: thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế, mở rộng hình thức đấu tranh công khai và bán công khai, tập hợp lực lượng quần chúng rộng rãi. Những điều chỉnh này đã tạo bước chuyển quan trọng, đưa phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, đặt nền tảng cho cao trào dân chủ 1936-1939.

Toàn cảnh khu mộ Tổng Bí thư Hà Huy Tập. Ảnh Đình Nhất.
Không chỉ vậy, trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất, đồng chí Hà Huy Tập đã trực tiếp soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng của Đảng. Với nhiều bút danh khác nhau, đồng chí để lại một hệ thống bài viết có giá trị lý luận sâu sắc, thể hiện tư duy logic, chặt chẽ và lập trường cách mạng kiên định. Các văn kiện do đồng chí trực tiếp nghiên cứu soạn thảo đã góp phần định hướng chiến lược, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng và nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, nhất là những phần tử cơ hội phản động Tơ-rốt-ky, đồng chí Hà Huy Tập đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lý luận sắc sảo. Các bài viết của đồng chí Tổng Bí thư không chỉ vạch trần bản chất phản động, những luận điệu giả danh cách mạng, thể hiện bản chất cơ hội của Tơ-rốt-ky, mà còn bảo vệ đường lối đúng đắn của Đảng, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng và sự thống nhất trong phong trào cách mạng.
Ngày 28/8/1941, đồng chí Hà Huy Tập hy sinh anh dũng trước mũi súng quân thù. Nhưng, những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Hà Huy Tập - người cộng sản kiên trung, bất khuất, nhà lý luận sắc sảo, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam đã thắp sáng niềm tin cho lớp lớp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng; tiếp tục soi sáng con đường cách mạng của Đảng và dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.











