Tổng Biên tập Báo Văn hóa Nguyễn Anh Vũ: Di sản tinh thần của gia đình dẫn lối tôi đến với nghiệp 'chữ nghĩa'
Bước từ nghề 'sách' sang nghề báo sau hơn 20 năm từ lời hẹn của chính mình, đến nay Tổng Biên tập Báo Văn hóa Nguyễn Anh Vũ đã giữ nghiệp 'chữ nghĩa' gần 30 năm. Đó cũng chính là di sản tinh thần của gia đình mà ba mẹ đã trao truyền lại cho anh.

Trước thềm xuân mới Bính Ngọ, cũng là một người cầm tinh con Ngựa, Tổng Biên tập báo Văn hóa Nguyễn Anh Vũ đã có những chia sẻ thú vị về hành trình trên con đường “chữ nghĩa” của mình.

Phóng viên: Thưa Tổng Biên tập Báo Văn hóa Nguyễn Anh Vũ, được biết, anh sinh ra trong một gia đình có nền tảng về văn chương, văn hóa, vậy di sản tinh thần của gia đình đã “ngấm” vào anh như thế nào để từ đó anh lựa chọn sự nghiệp và cuộc đời liên quan đến lĩnh vực chữ nghĩa này?
Tổng Biên tập Nguyễn Anh Vũ: Gia đình tôi có thể coi là có chút truyền thống về chữ nghĩa. Từ khi bắt đầu có nhận thức, tôi đã thấy chung quanh mình chỉ toàn sách và báo. Mẹ tôi là giảng viên khoa Văn, Trường đại học Tổng hợp. Còn ba tôi là nhà báo. Trong suy nghĩ non nớt của một đứa trẻ, không hiểu sao từ ngày ấy tôi thấy rất tự hào về điều đó, dù thực ra cũng chưa hiểu hết nhà báo làm gì, chỉ biết nghe hai chữ “nhà báo” thấy oách lắm.
Tôi vẫn từng nghĩ cả cuộc đời ba tôi chỉ gắn bó với nghề báo. Sau này, khi ba mất, trong quá trình làm thủ tục đề nghị truy tặng Huân chương Lao động cho ông, tôi mới biết rằng sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp, ba tôi từng làm cán bộ biên tập ở một đơn vị thuộc Viện Kiểm sát hơn một năm, trước khi chuyển sang Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật - tiền thân của Báo Văn hóa ngày nay - và gắn bó ở đó cho đến cuối đời. Hóa ra hành trình nghề nghiệp của ông cũng có những khúc quanh mà khi còn sống ông ít khi kể.
Nhà tôi ngày ấy không có gì ngoài sách vở và báo chí. Cũng như nhiều đứa trẻ cùng thời, những kỳ nghỉ hè của tôi thường bị “nhốt” trong căn nhà nhỏ. Tôi bị “nhốt” trong nhà - đúng nghĩa đen - và việc duy nhất để giết thời gian chờ mẹ về là lục sách trên giá mà đọc.
Nhà chỉ là một gian cấp bốn. Phía ngoài là phòng khách, phía trong là giường ngủ đặt cạnh cửa sổ, và ngay sát đó là giá sách. Tôi cứ thế kéo từng cuốn xuống đọc. Ban đầu chọn những cuốn mỏng, sau đó đến những cuốn có cái tên lạ, nghe hấp dẫn. Lớn lên mới biết mình đã đọc toàn những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam và thế giới: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… rồi những cái tên đầy ám ảnh như Người đi xuyên tường, Chát xình chát chát bùm, Những người thích đùa, Ngõ hẻm dưới ánh trăng…
Có những truyện đọc xong mà chẳng hiểu gì, vì khi ấy còn quá nhỏ. Tôi hỏi ba mẹ, cũng được giải thích, nhưng chỉ theo cách chung chung, đủ để tôi hiểu mà không đi sâu vào những điều chưa phù hợp với lứa tuổi. Có lẽ chính sự “giữ chừng mực” ấy khiến tôi tò mò hơn, và đọc nhiều hơn.

Cho đến bây giờ, trong ký ức tôi vẫn nguyên vẹn hình ảnh những đêm tỉnh giấc giữa chừng. Đèn vẫn sáng. Nhìn ra thấy ba tôi ngồi bên bàn làm việc, cặm cụi viết trong làn khói thuốc mờ. Hình ảnh ấy đẹp một cách kỳ lạ. Một người đàn ông lặng lẽ trước trang giấy, giữa đêm khuya tĩnh mịch. Có lẽ lúc ấy tôi chưa hiểu hết lao động chữ nghĩa vất vả đến mức nào, nhưng tôi cảm nhận được sự nghiêm túc và đam mê trong công việc của ông.
Hồi nhỏ, ai hỏi bố mẹ làm nghề gì, tôi chỉ khoe mỗi bố là nhà báo. Mẹ là giảng viên đại học cũng rất đáng tự hào, nhưng với tôi, làm báo “oách” hơn. Nghề báo còn gây ấn tượng khi tôi gặp những đồng nghiệp của ba: ai cũng mạnh mẽ, bụi bặm, ngang tàng, có phần “ăn to nói lớn”, và đặc biệt là nói rất hay. Không khí ấy - những câu chuyện nghề, những tranh luận sôi nổi - ngấm dần vào tôi lúc nào không hay.
Có lẽ từ những ảnh hưởng đó, đến năm cấp ba, dù học lớp chọn Toán của Trường Nguyễn Huệ (Hà Đông cũ), khi thi đại học tôi lại chọn khối xã hội. Cả lớp thi tự nhiên, riêng tôi rẽ hướng. Cũng may vừa đủ điểm đỗ khoa Văn.
Ngày ấy, tôi xác định học Văn để ra làm báo. Khi đó, khoa Báo chí của Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội mới thành lập, đào tạo được vài khóa, chưa có nhiều tên tuổi như bây giờ. Trong khi những nhà báo mà tôi biết - bạn bè của ba, những lãnh đạo cơ quan báo chí, những cây viết lẫy lừng - đều xuất thân từ khoa Văn. Trong suy nghĩ của tôi lúc ấy, học Văn là con đường “chính thống” để làm báo.
Có một chuyện vui nho nhỏ. Sau một năm rưỡi học đại cương, sinh viên thi chuyển giai đoạn và có thể lựa chọn lại ngành học. Tôi cũng từng phân vân muốn chuyển sang học Báo chí. Nhưng các thầy cô khoa Văn - vốn là đồng nghiệp của mẹ tôi - đùa rằng tôi nên ở lại học Văn cho “trai khoa Văn khí thế lên”, vì khoa Văn ít nam sinh quá. Thế là tôi ở lại.
Nhìn lại, có những quyết định khi ấy tưởng chừng rất nhỏ, thậm chí mang chút ngẫu nhiên. Nhưng có lẽ, con đường chữ nghĩa của tôi đã được gieo mầm từ rất sớm - từ căn nhà cấp bốn chật hẹp, từ những giá sách cũ, từ làn khói thuốc và ánh đèn đêm khuya nơi ba tôi ngồi viết. Và có lẽ, nghiệp chữ không phải là điều tôi chọn một cách hoàn toàn chủ động, mà là điều đã chọn tôi từ những ngày thơ ấu ấy.

Phóng viên: Học Văn để làm báo, nhưng tại sao sau khi ra trường, anh lại làm công việc liên quan nhiều hơn đến văn chương, cho đến tận gần đây mới rẽ hướng sang báo?
Tổng Biên tập Nguyễn Anh Vũ: Khi mới ra trường, những năm tháng đầu tiên tôi làm việc ở một vài tờ báo. Lúc ấy, tôi cũng từng có ý định xin về Báo Công an nhân dân. Tuy nhiên, thời điểm đó báo không còn biên chế. Tôi dự tuyển và trúng tuyển vào vị trí biên tập viên của Nhà xuất bản Công an nhân dân.
Thực lòng mà nói, lúc ấy tôi chỉ nghĩ sẽ làm ở Nhà xuất bản một thời gian rồi tìm cơ hội chuyển sang báo. Trước đó, cũng có người từ Nhà xuất bản chuyển sang Báo Công an nhân dân, nên tôi tin mình có thể đi theo lộ trình ấy. Nhưng chỉ sau ba tháng làm việc, khi chuẩn bị hoàn tất thủ tục vào chính thức, tôi nhận ra mình không thực sự phù hợp với môi trường đó. Tôi viết đơn xin nghỉ.
Ngày ấy, không ít người bảo tôi “dở hơi”. Người ta ngoài kia mong mỏi được vào mà không được, còn tôi đã đeo quân hàm đến nơi lại xin đi. Đến bây giờ tôi vẫn giữ Quyết định phân công công tác do Tổng Cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng ký - như một kỷ niệm của một ngã rẽ quan trọng.
Nghỉ việc, tôi rơi vào trạng thái lưng chừng, chưa biết làm gì. Định quay lại những tờ báo cũ thì tình cờ, trong một cuộc gặp, ba tôi trò chuyện với nhà phê bình văn học Chu Giang - Nguyễn Văn Lưu, khi đó là Giám đốc Nhà xuất bản Văn học. Có lẽ ba tôi cũng than phiền về quyết định nghỉ việc “dở hơi” và tình trạng “thất nghiệp” của tôi. Ngay lập tức, bác Lưu bảo: “Đưa nó về Nhà xuất bản Văn học làm việc. Thích viết báo thì về đây tha hồ mà viết”.

Nghe đến Nhà xuất bản Văn học, trong tôi ùa về ký ức những ngày thơ ấu bị “nhốt”, bởi những cuốn sách tôi đọc ngày đó đều của Nhà xuất bản Văn học. Tôi tự nhủ, thôi thì thử xem sao.
Về Nhà xuất bản Văn học, công việc phù hợp với chuyên ngành được đào tạo nên tôi hòa nhập khá nhanh. Tuy nhiên, trong lòng vẫn giữ một ý định mơ hồ: ở đây một thời gian rồi sẽ lại “nghe ngóng” để ra làm báo. Thế rồi năm 2004, biến cố lớn nhất đời người ập đến: ba tôi qua đời. Khi đó, tôi không còn tâm trí nào để nghĩ đến chuyện chuyển việc. Sau này, khi đã tĩnh tâm hơn, nỗi buồn nguôi ngoai phần nào, có người lại gợi ý tôi về báo này, báo kia. Nhưng lúc ấy, tôi lại cảm thấy nếu rời đi thì có gì đó không trọn vẹn.
Nhà xuất bản Văn học, với những người lãnh đạo và đồng nghiệp, đã trở thành chỗ dựa tinh thần của tôi trong quãng thời gian chông chênh nhất. Ở lại, ban đầu có thể là một lựa chọn tình cảm. Nhưng dần dần, đó là sự gắn bó thật sự.
Nhiều lần được “rủ rê” làm báo, tôi vẫn ngần ngừ, dù niềm yêu thích chưa bao giờ mất. Có lẽ một phần vì muốn lựa chọn kỹ hơn, một phần vì thấy mình còn trách nhiệm với nơi đã tin tưởng mình. Và cứ thế, vài lần “tặc lưỡi” lần lữa, hơn 20 năm trôi qua.
Từ năm 2001 đến năm 2023, tôi gắn bó trọn vẹn với Nhà xuất bản Văn học. Trong đó, có 11 năm giữ cương vị Giám đốc - Tổng Biên tập. Anh em trong nghề chúng tôi vẫn đùa đó là “nghề nguy hiểm”, bởi phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước dư luận, trước bạn đọc… về từng ấn phẩm được xuất bản. Mỗi năm, nhà xuất bản phát hành hơn một nghìn đầu sách. Áp lực không hề nhỏ.
Có người bảo ngày xưa thấy tôi làm việc “như chơi”, chỗ nào cũng có mặt, cuộc vui nào cũng không thiếu, mà nhà xuất bản vẫn vận hành trơn tru, không xảy ra sơ suất lớn. Nhưng thực ra, phía sau sự “nhẹ nhàng” ấy là sự chuẩn bị, là nền tảng gia đình, là sự yêu thích nghề và - tôi nghĩ mình có thể nói một cách khiêm tốn - một chút năng khiếu cùng tư duy mạch lạc được hình thành từ những năm học khối tự nhiên thời cấp 3. Chính cách suy nghĩ logic, hệ thống đã giúp tôi xử lý khối lượng công việc lớn mà vẫn giữ được sự tỉnh táo.
Năm 2023, đúng 20 năm sau ngày ba tôi mất, tôi được điều động, bổ nhiệm về Báo Văn hóa - tờ báo mà ba tôi đã dành gần trọn đời công tác để cống hiến. Khi ba tôi nằm xuống ông đang giữ cương vị Phó Tổng Biên tập phụ trách báo Văn hóa. Đó không chỉ là một sự điều động công tác. Với tôi, đó còn là một sự tiếp nối.
Ngồi nhìn lại hành trình của mình, tôi nghĩ đó là sự kết hợp của nhiều yếu tố: truyền thống gia đình, niềm yêu thích với chữ nghĩa và một chút tự tin vào năng lực bản thân. Có những lựa chọn ban đầu tưởng như ngẫu nhiên, thậm chí bị cho là “dở hơi”, nhưng cuối cùng lại định hình cả con đường.
Nghiệp chữ nghĩa với tôi không phải là sự sắp đặt hoàn hảo từ đầu, mà là một hành trình của những ngã rẽ, những lần do dự, những biến cố riêng tư và những quyết định tưởng như rất nhỏ. Nhưng có lẽ chính vì thế mà nó trở nên bền chặt.
Phóng viên: Hơn 20 năm từ văn chuyển sang báo, sẽ có những độ vênh nhất định giữa hai lĩnh vực, mặc dù cùng là công việc liên quan đến chữ nghĩa, viết lách, vậy anh đã làm thế nào để dung hòa?
Tổng Biên tập Nguyễn Anh Vũ: “Báo chí - xuất bản” là một cụm từ mang tính chuyên môn, nhưng thực chất là hai vòng tròn vừa giao thoa, vừa có những khác biệt căn bản. Điểm khác biệt đầu tiên nằm ở nhịp độ thời gian.
Báo chí là dòng chảy thông tin không ngừng nghỉ. Tin tức được cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí từng phút, từng giây. Tính thời sự là yếu tố sống còn. Trong khi đó, với sách - dù không thể nói hoàn toàn không chịu áp lực tiến độ - nhưng nhìn chung, phần lớn các ấn phẩm xuất bản không bị thúc ép khắc nghiệt như báo chí. Có những cuốn sách cần ra mắt đúng dịp, đúng sự kiện, song phần lớn vẫn có độ “trễ” cho phép về mặt thời gian. Chính vì vậy, tư duy làm việc trong xuất bản có thể dung hòa với sự nhẩn nha, còn trong báo chí thì không. Báo hôm nay không ra kịp là mất cơ hội. Báo chí hiện đại cạnh tranh khốc liệt không chỉ với các cơ quan báo chí khác mà còn với mạng xã hội. Tốc độ trở thành yếu tố quyết định uy tín và thương hiệu.
Sự khác biệt thứ hai nằm ở ngôn ngữ và dung lượng. Văn chương có thể triển khai dài hơi; một cuốn sách dày hàng trăm trang vẫn có thể tiếp tục mở rộng thêm mà không gây áp lực cấu trúc tức thì. Nhưng báo chí thì khác. Một bài viết được yêu cầu 1.000-1.200 chữ mà kéo dài tới 3.000 chữ là đã lệch khỏi khuôn khổ. Báo chí đòi hỏi sự cô đọng, chắt lọc và tiết chế. Mỗi chữ đều phải mang thông tin, quan điểm hoặc giá trị nhất định.
Báo chí còn đòi hỏi độ nhạy cảm rất cao - nhạy cảm chính trị, nhạy cảm xã hội và nhạy cảm trước dư luận. Đối tượng độc giả của báo chí rộng hơn rất nhiều so với sách, vì vậy, mức độ “soi chiếu” cũng khắt khe hơn. Một chi tiết sơ suất có thể tạo ra phản ứng dây chuyền. Trong khi tác phẩm văn học thiên về sáng tạo cá nhân, báo chí gắn trực tiếp với những vấn đề lớn của đất nước: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ trương, đường lối, chính sách. Văn học có thể hư cấu, báo chí thì không. Báo chí phải dựa trên sự thật, phải kiểm chứng, phải chính xác.
Chính vì vậy, người làm báo không chỉ viết hay mà còn phải am hiểu sâu sắc các lĩnh vực xã hội, phải lắng nghe dư luận để xác định cách tiếp cận phù hợp. Mỗi tờ báo lại có bản sắc riêng. Chẳng hạn, với Báo Văn hóa, mỗi tin bài đăng tải không chỉ cần đúng mà còn phải có “hàm lượng văn hóa”. Có những đề tài có thể rất “nóng”, rất thu hút tương tác, nhưng nếu không thể gia công để phù hợp với định hướng, văn phong và giá trị mà tờ báo theo đuổi, thì vẫn không thể xuất bản. Lượt đọc hay phát hành quan trọng, nhưng không thể đánh đổi bằng bản sắc và chuẩn mực.
Một khác biệt nữa là môi trường tác nghiệp. Làm báo đồng nghĩa với việc đi ra thực địa, tiếp xúc, va chạm, thậm chí đối diện với phản ứng trái chiều khi xử lý các vấn đề tiêu cực. Áp lực không chỉ đến từ công việc mà còn từ các mối quan hệ xã hội. Trong khi đó, ở lĩnh vực xuất bản, nếu tác phẩm tốt thì được in; xung đột - nếu có - thường chỉ dừng lại ở việc trao đổi, chỉnh sửa với tác giả. Báo chí lại là quá trình “đối diện” trực tiếp với thực tiễn.
Vì thế, người làm báo phải biết hành xử linh hoạt: vừa “rắn” để bảo vệ nguyên tắc nghề nghiệp, vừa “mềm” để xử lý tình huống, bảo đảm hiệu quả công việc mà không tạo ra mâu thuẫn bất lợi cho tập thể. Đặc biệt, ở vị trí quản lý, mỗi quyết định ký duyệt, mỗi chủ trương đưa ra đều kéo theo trách nhiệm trước pháp luật, trước dư luận và trước toàn thể cán bộ, nhân viên. Đặt bút ký không chỉ là một thao tác hành chính, mà là sự cân nhắc toàn diện giữa tính đúng đắn, tính kịp thời, tính hiệu quả và tính an toàn.
Báo chí và xuất bản vì thế tuy có điểm giao thoa về mục tiêu lan tỏa tri thức và giá trị, nhưng phương thức vận hành, áp lực nghề nghiệp và yêu cầu trách nhiệm lại rất khác nhau. Hiểu rõ ranh giới ấy là điều kiện để mỗi người làm nghề lựa chọn đúng tư duy, đúng cách hành xử và giữ vững chuẩn mực của mình trong từng quyết định.
Tất cả những nhận thức trên đây phần nào đã giúp tôi dung hòa giữa hai lĩnh vực.
Phóng viên: Trước thời đại công nghệ phát triển như vũ bão, các cơ quan báo chí hiện nay đều phải nhập cuộc trong cuộc cạnh tranh gay gắt không chỉ về công nghệ mà còn cả với nhiều nền tảng mạng xã hội. Vậy với tư cách là một vị thuyền trưởng của con tàu Báo Văn hóa, anh làm thế nào để đưa tờ báo vượt qua một cách mạnh mẽ?
Tổng Biên tập Nguyễn Anh Vũ: Liên quan đến công nghệ và chuyển đổi số của Báo Văn hóa, khi tôi nhận nhiệm vụ phụ trách tờ báo, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng hạ tầng công nghệ của chúng tôi còn “đuối” so với mặt bằng chung, ít nhất là so với nhiều cơ quan báo chí thuộc các bộ, ngành. Đó là một thực tế không thể né tránh. Và thay vì băn khoăn hay biện minh, tôi và Ban lãnh đạo lựa chọn bắt tay vào làm ngay.
Việc đầu tiên là nâng cấp, cải tạo toàn diện hạ tầng của báo điện tử - từ nền tảng kỹ thuật, hệ thống quản trị nội dung đến khả năng tích hợp đa phương tiện. Song song với đó là quá trình nâng cao năng lực đội ngũ. Phóng viên, biên tập viên không chỉ viết mà phải biết làm sản phẩm đa nền tảng, hiểu về dữ liệu, về tối ưu hiển thị, về hành vi độc giả. Chúng tôi chủ động làm việc với các đối tác công nghệ để từng bước đưa chuyển đổi số vào tòa soạn theo hướng bài bản và thực chất hơn.

Năm 2024, khi Bộ chỉ số đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số của các cơ quan báo chí được công bố, Báo Văn hóa xếp ở mức yếu. Đó là một cú chạm cần thiết để nhìn lại mình. Sau một năm nỗ lực rất lớn, chúng tôi đã vươn lên mức tốt. Kết quả ấy không đến từ sự thuận lợi về nguồn lực, bởi thực tế cơ quan không có đội ngũ công nghệ nội tại mạnh. Chúng tôi phải hợp tác, liên kết với các đơn vị bên ngoài; phải mời chuyên gia về đào tạo kỹ năng ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) cho đội ngũ; phải từng bước xây dựng tư duy số cho cán bộ, phóng viên, biên tập viên ở mức từ cơ bản đến trung bình khá. Đó là một quá trình vừa học vừa làm, vừa đầu tư vừa điều chỉnh.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là tốc độ phát triển của công nghệ quá nhanh. Gần như mỗi ngày đều có thay đổi. Có những giải pháp công nghệ chúng tôi vừa ký hợp đồng triển khai, chỉ một thời gian ngắn sau đã xuất hiện phiên bản mới, thậm chí xu hướng mới. Điều đó đặt ra áp lực nâng cấp liên tục. Tuy nhiên, không thể đứng ngoài dòng chảy ấy. Chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà là xu thế không thể đảo ngược của báo chí. AI hiện nay gần như có thể hỗ trợ sản xuất các sản phẩm từ báo in, báo điện tử đến phân phối đa nền tảng.
Nhưng công nghệ không phải là đích đến cuối cùng.
Chủ trương của Báo Văn hóa là tiếp cận công nghệ để bắt kịp sự phát triển chung, đồng thời vẫn giữ một hướng đi truyền thống cho các tuyến bài chuyên sâu, chính luận, phân tích và tham vấn. Chúng tôi không chạy theo “trend” một cách bằng mọi giá. Bên cạnh dòng tin tức chủ lưu, tờ báo xác định phải có những bài viết thể hiện quan điểm, góc nhìn, thậm chí phản biện trên tinh thần xây dựng trước các vấn đề của đời sống, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm cung cấp những tham vấn hiệu quả, có chiều sâu.
Trên thế giới, vẫn có những cơ quan báo chí tồn tại và phát triển theo mô hình đó - họ “bán” quan điểm, “bán” trí tuệ, “bán” chiều sâu phân tích của đội ngũ tòa soạn và các chuyên gia cộng tác viên. Những sản phẩm như vậy không cần quá nhiều kỹ xảo công nghệ phức tạp, nhưng đòi hỏi chất lượng tư duy rất cao. Đó là giá trị không dễ thay thế.
Hiện nay, báo chí đang chịu sức ép lớn từ xu hướng “xem - nhìn” trên các nền tảng số. Nội dung trực quan, video, đồ họa chiếm ưu thế. Đó là quy luật. Nhưng tôi tin rằng những giá trị có tính căn cốt - hàm lượng tri thức, chất lượng chuyên môn, chiều sâu văn hóa - sẽ không mất đi nếu chúng ta làm tốt.
Định hướng của Báo Văn hóa là đi song hành hai mạch: một mạch tin tức kịp thời, bắt nhịp dòng chảy xã hội; và một mạch tri thức, tạo ra giá trị lâu dài. Các tác phẩm báo chí không chỉ phản ánh sự kiện hay vấn đề dư luận quan tâm, mà còn phải cung cấp nền tảng để người đọc có thể vận dụng vào công tác chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa - một lĩnh vực đòi hỏi chiều sâu và bản lĩnh học thuật.

Chúng tôi ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo ở mức cao nhất có thể, nhưng điều mong muốn đọng lại cuối cùng vẫn là câu chuyện nội dung. Báo chí, suy cho cùng, vẫn là sáng tạo của con người. Công nghệ có thể hỗ trợ, tăng tốc, mở rộng phạm vi tiếp cận, nhưng không thể thay thế tư duy, bản lĩnh và trách nhiệm nghề nghiệp.
Giá trị cốt lõi của một tờ báo không nằm ở việc chạy nhanh bao nhiêu, mà ở việc đứng vững ở đâu. Và với chúng tôi, chuyển đổi số là để làm tốt hơn sứ mệnh đó, chứ không phải để đánh mất nó.

Phóng viên: Nhân năm Bính Ngọ, anh có thể chia sẻ những cá tính của mình phần nào liên quan đến con giáp này? Những tính cách đó có ảnh hưởng chút nào đến công việc và cách xử lý công việc của anh không?
Tổng Biên tập Nguyễn Anh Vũ: Người tuổi Ngựa thường được nhắc đến với những phẩm chất như mạnh mẽ, quyết liệt, quyết đoán, và đôi khi có chút nóng tính. Họ có xu hướng nhìn thẳng vào mục tiêu và đi tới, nếu tin rằng mục tiêu đó là đúng đắn, tích cực và có ích. Có lẽ tôi cũng phần nào mang trong mình tinh thần ấy.
Tuy nhiên, trong công việc, đặc biệt là khi đảm nhận vai trò liên quan đến cả một tập thể, sự quyết đoán không thể tách rời khỏi cân nhắc. Một quyết định đưa ra không chỉ tác động đến cá nhân mình, mà còn ảnh hưởng đến đồng nghiệp, đến uy tín cơ quan, đến thương hiệu của tờ báo. Vì thế, dù bản tính có thể thiên về hành động nhanh, tôi vẫn luôn tự nhắc mình phải đặt lợi ích chung lên trên hết. Mỗi bước đi, nhất là những quyết định mang tính chiến lược, đều cần được suy xét trong tổng thể: hiệu quả trước mắt và hệ quả lâu dài.
Khác với công việc tập thể, trong những vấn đề mang tính cá nhân, tôi nhận thấy mình ít tính toán hơn. Có lẽ vì nếu có rủi ro thì cũng chỉ mình tôi chịu. Trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi không có nhiều lựa chọn hoặc thời gian không cho phép cân nhắc quá lâu, tôi thường chọn cách quyết định dứt khoát và sẵn sàng chịu trách nhiệm với quyết định đó. Tôi tin rằng trách nhiệm là điều không thể né tránh khi đã ở vị trí lãnh đạo.

Người ta có thể nói tuổi Ngựa đôi khi có phần liều lĩnh. Nhưng với tôi, liều lĩnh và dũng cảm là hai ranh giới rất mong manh. Tôi chưa từng xem những quyết định của mình là liều lĩnh, bởi trước khi quyết, tôi luôn đặt câu hỏi: điều đó có đúng không, có vì lợi ích chung không, có phù hợp với nguyên tắc nghề nghiệp không. Thậm chí, trong một số việc, tôi còn thấy mình hơi cầu toàn, đôi khi suy nghĩ nhiều hơn cần thiết.
Có thể nói, “tuổi Ngựa” trong tôi không chỉ là sự mạnh mẽ hay quyết đoán, mà còn là tinh thần tiến về phía trước với trách nhiệm rõ ràng. Quyết thì phải làm, làm thì phải chịu trách nhiệm. Nhưng quyết đoán không đồng nghĩa với nông nổi; và dấn thân không có nghĩa là thiếu cân nhắc. Đó là cách tôi hiểu và sống với “tuổi Ngựa” của mình.











