TP HCM đề xuất bảng giá đất mới áp dụng từ năm 2026
Dự thảo cho thấy mức điều chỉnh giữa các khu vực có sự phân hóa rõ rệt, đặc biệt tại những tuyến đường trung tâm và địa bàn từng có chênh lệch lớn giữa giá giao dịch và giá tính thuế.

Ảnh minh họa.
Sở Nông nghiệp và Môi trường TP HCM vừa công bố dự thảo tờ trình về việc xây dựng bảng giá đất lần đầu sau sáp nhập, dự kiến áp dụng từ ngày 01/1/2026 theo Luật Đất đai 2024.
Theo dự thảo, mức giá đất cao nhất tại TP HCM vẫn giữ nguyên 687 triệu đồng/m², áp dụng cho ba tuyến đường trung tâm là Nguyễn Huệ, Lê Lợi và Đồng Khởi. Các trục đường lớn khác cũng được giữ nguyên mặt bằng giá hiện hành như Cao Thắng (262 triệu đồng/m²), Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thị Minh Khai và Võ Văn Tần (267 triệu đồng/m²).
Bên cạnh đó, nhiều tuyến đường trung tâm được điều chỉnh tăng đáng kể. Tại phường Sài Gòn, các tuyến Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh và Đinh Thiên Hoàng tăng 32 - 36%. Ở phường Bến Thành, các trục Đặng Trần Côn, Lương Hữu Khánh, Đề Thám và Phạm Ngũ Lão tăng 19 - 27%. Tại phường Tân Định, giá đất trên các tuyến Huỳnh Khương Ninh, Hoàng Sa, Trần Khánh Dư, Trần Khắc Chân và Trần Nhật Duật tăng 30 - 40%.
Ngược lại, các xã vùng ven như Bình Chánh, Bình Hưng, Hóc Môn và Nhà Bè hầu như không thay đổi. Huyện Cần Giờ (cũ) là khu vực điều chỉnh mạnh nhất, ghi nhận mức tăng 10 - 20%. Một số tuyến quan trọng như Duyên Hải - Tắc Xuất hay Tắc Xuất - Giồng Cháy tăng hơn 20%, trong khi đường Rừng Sác đoạn Phà Bình Khánh tăng 11,7%, tuyến Tam Thôn Hiệp - Rừng Sác tăng 19%.
Theo cơ cấu mới, bảng giá đất được chia thành ba khu vực: khu vực 1 (TP HCM cũ), khu vực 2 (Bình Dương cũ) và khu vực 3 (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ). Trong đó, khu vực 1 vẫn có mức giá cao nhất hơn 687 triệu đồng/m² với hệ số tăng tối đa 1,56 lần. Khu vực 2 ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lên đến 8 lần so với Quyết định 63/2024, với mức giá cao nhất hơn 89 triệu đồng/m² tại các trục Yersin và Bạch Đằng. Khu vực 3 có giá cao nhất 149 triệu đồng/m² tại đường Thùy Vân, hệ số tăng tối đa 3,78 lần.
Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, dữ liệu giao dịch tại khu vực TP HCM (cũ) khá đầy đủ nên bảng giá mới chủ yếu nhằm đồng bộ và cân chỉnh, không tăng quá so với hiện hành. Nhiều tuyến trung tâm được giữ mức khoảng 60% so với giá khảo sát, như Hàm Nghi được đề xuất 429 triệu đồng/m² (thấp hơn khảo sát 654 triệu đồng/m²), Đồng Khởi thấp hơn 28% so với khảo sát 954 triệu đồng/m², Cao Bá Quát đề xuất 215 triệu đồng/m² thay vì 294 triệu đồng/m².
Tại khu vực Bình Dương (cũ), mức tăng 50 - 70% chủ yếu do cập nhật giá tái định cư. Các tuyến có bố trí tái định cư được xác định giá cao, trong khi tuyến khác thấp nên chênh lệch lớn. Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) cũng điều chỉnh tăng nhưng nhẹ hơn, do mặt bằng giá thực tế vốn cao.
Với đất sản xuất kinh doanh và thương mại dịch vụ, bảng giá mới điều chỉnh theo hướng khuyến khích đầu tư. Một số loại đất đặc thù như sân golf, kho bãi logistics, cửa hàng xăng dầu được áp dụng mức 50 - 70% giá đất thương mại hoặc 30 - 50% giá đất sản xuất.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, bảng giá đất mới nhằm đảm bảo công bằng cho người dân được bố trí tái định cư và các trường hợp giao đất không qua đấu giá. Bảng giá cũng sẽ được cập nhật hàng năm thay vì 5 năm một lần như trước đây. Từ năm 2026, nếu giá giao dịch trên thị trường thấp hơn bảng giá, cơ quan quản lý có thể xem xét lại tính hợp pháp của giao dịch, đồng thời người dân vẫn phải nộp các loại thuế, phí dựa trên mức tối thiểu của bảng giá đất.












