TP Hồ Chí Minh: Khai thác giá trị từ tài sản trí tuệ cộng đồng
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, TP Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ, đồng thời tổ chức quản lý, kiểm soát và khai thác nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý gắn với địa danh, qua đó nâng giá trị sản phẩm và bảo đảm lợi ích cộng đồng sản xuất.
Bảo hộ không phải là điểm kết thúc
Khi một địa danh được xác lập quyền sở hữu trí tuệ, điều đó mới tạo ra cơ sở pháp lý để bảo vệ tên gọi và những giá trị gắn với sản phẩm. Nhưng nếu không có tổ chức quản lý đủ năng lực, không duy trì được hiệu lực văn bằng và không kiểm soát việc sử dụng trên thị trường, giá trị của tài sản trí tuệ vẫn có thể bị suy giảm.
Đây là vấn đề TP Hồ Chí Minh tính đến trong quá trình quản lý các tài sản trí tuệ cộng đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính. Thành phố hiện có 168 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 113 phường, 54 xã và 1 đặc khu. Cùng với sự thay đổi về địa giới là sự thay đổi về tổ chức quản lý nhiều tài sản trí tuệ gắn với địa danh đã được hình thành từ trước.
Theo ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP Hồ Chí Minh, những tài sản này gồm nhiều sản phẩm đã có vị trí nhất định trên thị trường như nhãn xuồng cơm vàng, muối ăn, hạt tiêu đen, mãng cầu ta Cát Lở của Bà Rịa - Vũng Tàu; măng cụt Lái Thiêu, cam và bưởi Bắc Tân Uyên, hồ tiêu Phú Giáo của Bình Dương; yến sào, xoài cát, khô cá dứa Cần Giờ; cá thu và mực một nắng Côn Đảo. Bên cạnh đó là những thương hiệu gắn với các ngành nghề tại khu vực trung tâm thành phố như phố vàng bạc đá trang sức và phố Đông y (Quận 5 cũ).
Điểm đáng chú ý là giá trị của những tài sản này không nằm riêng trong văn bằng bảo hộ. Đằng sau một tên gọi là vùng sản xuất, người nông dân, thợ thủ công, doanh nghiệp và cả quá trình tạo dựng danh tiếng của sản phẩm. Vì vậy, khi tổ chức quản lý thay đổi, yêu cầu đặt ra không chỉ là xác định đơn vị tiếp nhận, mà phải bảo đảm quyền được thực hiện liên tục và hiệu quả.

Ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị gần đây.
Thành phố đã xác định các tổ chức kế thừa đối với những văn bằng bị ảnh hưởng bởi việc sắp xếp đơn vị hành chính. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phó Trưởng phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo (Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh), sau khi tiếp nhận, các tổ chức này còn phải thực hiện một chuỗi nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến duy trì hiệu lực và khai thác tài sản trí tuệ.
Một trong những vấn đề cần được xử lý ngay là thời hạn bảo hộ. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp đơn và hồ sơ gia hạn phải được nộp trong vòng 6 tháng trước ngày hết hiệu lực. Nếu quá thời hạn, hiệu lực văn bằng bảo hộ chấm dứt và không có cơ chế khôi phục.
Trong 26 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được bàn giao, có 9 văn bằng hết hiệu lực trong vòng 12 tháng tới và 5 văn bằng đã bước vào thời hạn nộp hồ sơ gia hạn. Vì vậy, ông Trần Trọng Tuyên lưu ý các tổ chức kế thừa phải xử lý việc gia hạn ngay, không chờ hoàn tất thủ tục sửa đổi chủ văn bằng mới nộp hồ sơ.
Nhưng duy trì hiệu lực văn bằng vẫn chưa đủ. Theo quy định, tổ chức quản lý còn phải kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý theo quy chế. Việc không kiểm soát hoặc kiểm soát không hiệu quả cũng có thể là căn cứ để chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.
Như vậy, yêu cầu đối với tổ chức quản lý đã chuyển từ việc "giữ" văn bằng sang thực hiện một hệ thống quản trị cụ thể. Bà Nguyễn Thị Ngọc Nhung nhấn mạnh: “Tổ chức được giao quản lý phải thực hiện chuỗi 7 nhiệm vụ hướng tới quản lý đúng quy chế và khai thác hiệu quả, bao gồm: tiếp nhận hồ sơ, văn bằng; sửa đổi thông tin, gia hạn, cấp lại; quản lý và khai thác nhãn hiệu; duy trì hiệu lực văn bằng; kiểm soát việc sử dụng địa danh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng và báo cáo hằng năm thông qua Sở”.

Kết quả quá trình rà soát, tham mưu xác định tổ chức thừa kế. Nguồn: Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh
Đây cũng là điểm mà các địa phương cần tính đến về nhân lực và kinh phí. ThS. Nguyễn Văn Ba, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn và phát triển thương hiệu AMC Việt Nam, cho rằng một trong những khó khăn phổ biến hiện nay là thiếu cán bộ chuyên môn phụ trách sở hữu trí tuệ, trong khi phần lớn cán bộ phải làm công tác kiêm nhiệm. Nguồn kinh phí dành cho hoạt động khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ tại cấp xã, các chi cục, sở, ban, ngành còn hạn chế.
“Nếu không có người trực tiếp theo dõi, cập nhật và tổ chức kiểm soát, quy định về quản lý nhãn hiệu rất khó đi vào thực tế. Cùng với việc bố trí cán bộ chuyên môn và nguồn vốn phù hợp, thủ tục cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cũng cần được đơn giản hóa, ghi nhận sự thay đổi theo hướng hậu kiểm thay vì tiền kiểm cứng nhắc”, ông Văn Ba cho biết thêm.
Những vấn đề trên cho thấy sau khi một tài sản trí tuệ được xác lập quyền, điều quan trọng không phải là có thêm một văn bằng trong hồ sơ quản lý mà là phải xây dựng được một cơ chế vận hành để quyền đó được sử dụng đúng mục đích, được bảo vệ trước hành vi xâm phạm và tiếp tục tạo ra giá trị.

Ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh, trao 30 văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể có chứa tên địa danh thuộc TP Hồ Chí Minh, ngày 10/9/2026.
Đưa tài sản trí tuệ ra khỏi giấy tờ
Từ góc độ chuyên môn, Thạc sĩ Lê Minh Thu, Phó Giám đốc Trung tâm Thẩm định chỉ dẫn địa lí và Nhãn hiệu quốc tế - Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT), cho rằng, cần thay đổi cách nhìn về tài sản trí tuệ cộng đồng.
Theo bà Thu, mỗi địa phương đều có lợi thế riêng về điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, nguồn nguyên liệu, giống cây trồng, vật nuôi, nghề truyền thống, kỹ thuật sản xuất, tập quán và tri thức cộng đồng. Tuy nhiên, những lợi thế tự nhiên và truyền thống đó chưa tự động trở thành tài sản trí tuệ.
Sở hữu trí tuệ là công cụ giúp chuyển những lợi thế này thành các dấu hiệu có thể nhận diện, những quyền có thể bảo vệ và những giá trị có thể khai thác. Với chỉ dẫn địa lý hay nhãn hiệu cộng đồng, việc xác lập quyền vì thế cần được nhìn như điểm khởi đầu cho một quá trình dài hơn.
Theo bà Thu, tư duy quản lý cần chuyển từ câu hỏi "đã đăng ký bảo hộ chưa?" sang câu hỏi "đã tạo ra giá trị gì sau khi bảo hộ?". Đây là sự thay đổi quan trọng, bởi nếu chỉ dừng ở việc xác lập quyền, tài sản trí tuệ rất dễ trở thành một phần hồ sơ hành chính thay vì một công cụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
Đối với nhãn hiệu cộng đồng, người sản xuất phải được đặt ở vị trí trung tâm. Cộng đồng là chủ thể tạo ra giá trị, đồng thời là người bảo vệ thương hiệu và phải được hưởng lợi từ thương hiệu. Nếu sản phẩm không giữ được chất lượng, người tiêu dùng không chấp nhận và thị trường không trả thêm giá trị cho sự khác biệt của sản phẩm thì bản thân nhãn hiệu cũng khó tạo ra tác động kinh tế.
Trường hợp Chỉ dẫn địa lý "Nước mắm Phú Quốc" được Thạc sĩ Lê Minh Thu đưa ra là một minh chứng cho hướng tiếp cận này. Theo số liệu bà Thu dẫn chứng, sản phẩm có 54 hội viên nhà thùng, doanh thu 250 - 300 tỷ đồng/năm. Giá nước mắm xuất khẩu tại thị trường Hàn Quốc cao hơn giá bán trong nước 20 - 30%, tại thị trường EU cao hơn khoảng 50% và tại thị trường Mỹ cao hơn khoảng 65%.
Điểm đáng nói trong trường hợp này không chỉ là tên gọi "Phú Quốc" được bảo vệ. Giá trị của chỉ dẫn địa lý được tạo nên từ sự kết hợp giữa danh tiếng của địa phương, nghề truyền thống, nguyên liệu, quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường. Khi những yếu tố đó được quản lý đồng bộ, tài sản trí tuệ mới có khả năng chuyển hóa thành giá trị kinh tế.

Thạc sĩ Lê Minh Thu, Phó Giám đốc Trung tâm Thẩm định chỉ dẫn địa lí và Nhãn hiệu Quốc tế - Cục SHTT, phát biểu tại hội nghị gần đây.
Đây cũng là hướng mà TP Hồ Chí Minh cần tính đến đối với các nhãn hiệu cộng đồng đang được quản lý. Sau khi bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ không bị gián đoạn, các tổ chức quản lý cần quan tâm đến cách sản phẩm mang thương hiệu được đưa ra thị trường, cách nhận diện thương hiệu được xây dựng và cách người tiêu dùng nhận biết sự khác biệt về chất lượng.
Theo ThS. Nguyễn Văn Ba, các tổ chức quản lý cần đầu tư xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu, thiết kế bao bì sản phẩm, đa dạng hóa kênh phân phối và tăng cường kết nối thị trường. Đây là những công việc có thể quyết định việc một nhãn hiệu cộng đồng có được nhận diện trong thực tế hay chỉ tồn tại trong hệ thống văn bằng bảo hộ.
Ông Văn Ba cũng lưu ý vai trò của nhãn hiệu cộng đồng đối với Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP). Theo quy định, các sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận hoặc chỉ dẫn địa lý có lợi thế khi tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP. Nếu được tổ chức tốt, đây có thể là một trong những kênh để đưa giá trị sở hữu trí tuệ gắn với quá trình thương mại hóa sản phẩm.
Để quá trình này không dừng ở định hướng, ông Trần Trọng Tuyên cho biết Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh sẽ hướng dẫn cụ thể từng thủ tục, hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ, phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ để xử lý các vấn đề chuyên môn phát sinh và tham mưu UBND Thành phố đối với những nội dung vượt thẩm quyền.
Về nguồn lực, UBND Thành phố đã xác định cơ chế bố trí kinh phí cho từng nhóm tổ chức quản lý. Kinh phí sửa đổi văn bằng và các thủ tục liên quan đối với chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu chứng nhận được bố trí từ nguồn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 và giao trực tiếp cho cơ quan, đơn vị tiếp nhận. Đối với nhãn hiệu tập thể do Hội Nông dân cấp xã tiếp nhận, kinh phí được bố trí thông qua UBND cấp xã.

Sản phẩm “Cá thu một nắng Côn Đảo” và “Mực một nắng Côn Đảo” là hai sản phẩm đặc trưng được cấp nhãn hiệu chứng nhận; trước đây do UBND huyện Côn Đảo là chủ sở hữu, nay được giao UBND Đặc khu Côn Đảo quản lý, khai thác.
Những cơ chế này giải quyết phần điều kiện để tài sản trí tuệ được duy trì. Phần còn lại phụ thuộc vào năng lực quản trị và khả năng kết nối với thị trường của chính tổ chức quản lý và cộng đồng sản xuất.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, một số địa danh và thương hiệu cộng đồng đã có tổ chức kế thừa để tiếp tục quản lý. Nhưng đó mới là điều kiện cần, điều kiện đủ là các tổ chức này phải biến quyền sở hữu trí tuệ thành một công cụ bảo vệ chất lượng, giữ uy tín sản phẩm và tạo lợi thế trên thị trường.
Khi người sản xuất nhìn thấy lợi ích từ thương hiệu, họ mới có động lực giữ chất lượng; khi người tiêu dùng nhận biết được giá trị của sản phẩm, thương hiệu mới có sức sống và khi cộng đồng thực sự được hưởng lợi, tài sản trí tuệ mới hoàn thành đúng vai trò của nó. Đây cũng là bước chuyển cần thiết từ tư duy "bảo hộ cho có" sang quản trị và khai thác tài sản trí tuệ một cách thực chất.

