Tp. Huế khuyến cáo người nuôi thủy sản không chủ quan trước những biến động môi trường
Kiểm soát môi trường nước thường xuyên, quản lý thức ăn, mật độ nuôi và chất thải là những giải pháp quan trọng để giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh và thiệt hại

Cơ quan chuyên môn lấy mẫu để phân tích
Kết quả quan trắc môi trường nước tháng 8/2026 cho thấy phần lớn các thông số tại các vùng nuôi thủy sản trên địa bàn thành phố Huế nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu bất thường đang đặt ra yêu cầu người nuôi chủ động ứng phó, nhất là khi vụ nuôi sắp kết thúc và mùa mưa bão đang đến gần.
Một số khu vực cần đặc biệt lưu ý
Ngày 4/8/2026, Chi cục Thủy sản ban hành Thông báo số 196/TB-CCTS về kết quả quan trắc các thông số môi trường nước tại 20 điểm phục vụ nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh các thông số đo nhanh tại hiện trường, cơ quan chuyên môn tiếp tục phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường nhằm đánh giá đầy đủ hơn chất lượng môi trường tại các vùng nuôi.

Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số điểm nuôi trồng thủy sản
Đối với khu vực nuôi thủy sản nước lợ, mặn vùng đầm phá, ven biển, một số chỉ tiêu cần được người nuôi quan tâm. Tại Quảng An (xã Quảng Điền), độ mặn chỉ ở mức 5,08‰; tại Vinh Hà (xã Phú Vang) là 1,6‰, đều thấp, không bảo đảm điều kiện thuận lợi cho nuôi thủy sản nước lợ, mặn.
Đáng chú ý, hàm lượng sắt (Fe) tại Vinh Hà đạt 1,74 mg/l, cao hơn 3 lần giá trị giới hạn 0,5 mg/l; tại Quảng Công (phường Phong Quảng) đạt 0,53 mg/l. Những chỉ số này đòi hỏi việc cấp, thay nước vào ao phải được thực hiện thận trọng, có giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm hạn chế tác động bất lợi đến vật nuôi.

Người nuôi cần thường xuyên theo dõi màu nước, sức khỏe vật nuôi và các yếu tố môi trường để có biện pháp điều chỉnh kịp thời
Trong khi đó, thời tiết tiếp tục diễn biến cực đoan với nắng nóng xen kẽ mưa dông. Cuối vụ nuôi cũng là thời điểm chất hữu cơ dễ tích tụ ở nền đáy ao, làm gia tăng nguy cơ phát sinh các khí độc như NH3, H2S. Vì vậy, người nuôi cần thường xuyên theo dõi màu nước, sức khỏe vật nuôi và các yếu tố môi trường để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Theo kết quả quan trắc, các thông số còn lại tại đa số điểm lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép theo TCVN 13656:2023 đối với nước đã được xử lý cấp cho ao nuôi và nước trong nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng.
Không chủ quan với những biến động nhỏ
Tại các khu vực nuôi cá lồng nước ngọt, phần lớn các thông số môi trường cũng đáp ứng giới hạn theo TCVN 13952:2024 về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản thương phẩm nước ngọt.
Tuy nhiên, tại khu vực sông Đại Giang, chỉ số COD đạt 20,5 mg/l, cao hơn giới hạn cho phép là 20 mg/l. Mức vượt không lớn nhưng là dấu hiệu cần được theo dõi, bởi lượng chất hữu cơ cao có thể góp phần làm suy giảm ôxy hòa tan trong nước, tạo điều kiện cho vi khuẩn cơ hội phát triển và ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của thủy sản.
Tại khu vực nuôi cá lồng trên sông Bồ thuộc xã Quảng Điền, tổng Nitơ đạt 3,14 mg/l. Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng lượng Nitơ trong nước, có thể bắt nguồn từ thức ăn dư thừa, chất thải của vật nuôi hoặc xác động, thực vật phân hủy. Khi chuyển hóa thành NH3 hoặc NH4+, các hợp chất này có thể tác động trực tiếp đến chất lượng nước và sức khỏe thủy sản.

Kiểm soát môi trường nước thường xuyên là một giải pháp quan trọng để giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh và thiệt hại...
Do đó, việc theo dõi môi trường không nên chỉ được thực hiện khi xuất hiện hiện tượng bất thường. Kiểm soát môi trường nước thường xuyên, quản lý thức ăn, mật độ nuôi và chất thải là những giải pháp quan trọng để giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh và thiệt hại cuối vụ.
Chủ động kết thúc vụ nuôi, giảm rủi ro thiên tai
Theo hướng dẫn lịch thời vụ nuôi trồng thủy sản năm 2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường (Công văn số 8109/SNNMT-CCTS ngày 24/12/2025), thời gian kết thúc vụ nuôi đối với hình thức nuôi chuyên tôm, nuôi xen ghép tôm, cua, cá... tại các xã, phường Phong Quảng, Quảng Điền, Đan Điền, Hóa Châu, Thuận An và Lộc An là ngày 31/8/2026. Các địa phương cần tiếp tục tuyên truyền, đôn đốc người dân thu hoạch thủy sản đạt kích cỡ thương phẩm trước thời điểm kết thúc vụ, qua đó giảm mật độ, giảm áp lực môi trường và hạn chế thiệt hại khi mưa lũ xảy ra.
Đối với diện tích đủ điều kiện duy trì thủy sản qua mùa lụt, cần xây dựng phương án phòng chống thiên tai sát với điều kiện thực tế. Người nuôi cần tiếp tục thu hoạch, san thưa thủy sản; gia cố bờ ao, cống lấy nước, hệ thống rào lưới; chuẩn bị máy phát điện dự phòng và các thiết bị, chế phẩm cần thiết để bổ sung ôxy khi cần.
Cùng với đó, cần thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết và diễn biến môi trường để điều tiết độ mặn, ổn định pH; bổ sung vitamin, khoáng vi lượng và men tiêu hóa phù hợp nhằm nâng cao sức khỏe vật nuôi.
Đối với nuôi cá lồng, việc kiểm tra, gia cố dây neo, phao lồng và di chuyển lồng đến khu vực có dòng chảy phù hợp cần được thực hiện trước khi mưa lũ diễn biến phức tạp. Nhà canh cũng phải được gia cố, đồng thời ưu tiên tuyệt đối an toàn tính mạng người lao động.
Hướng tới một nền nuôi trồng thủy sản thích ứng và bền vững
Những kết quả quan trắc tháng 8/2026 cho thấy môi trường tại phần lớn vùng nuôi thủy sản trên địa bàn thành phố Huế vẫn cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, các biến động về độ mặn, sắt, COD và Nitơ tổng số là lời nhắc nhở về sự cần thiết của quản lý môi trường chủ động, dựa trên quan trắc và cơ sở khoa học.
Trong bối cảnh thời tiết ngày càng khó dự đoán, phát triển thủy sản bền vững không chỉ nằm ở việc nâng năng suất mà còn phải giảm thiểu rủi ro môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn nước, hạn chế chất thải và nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai.
Đây cũng là cơ sở để các địa phương, ngành chuyên môn và người nuôi tăng cường phối hợp, duy trì quan trắc thường xuyên, khuyến cáo kịp thời và áp dụng các quy trình nuôi an toàn sinh học, thân thiện với môi trường.
Chủ động từ khâu quản lý nguồn nước, chăm sóc vật nuôi đến phòng chống thiên tai sẽ góp phần bảo vệ sinh kế của người dân, giữ gìn hệ sinh thái đầm phá, sông ngòi và tạo nền tảng cho ngành thủy sản Huế phát triển theo hướng hiệu quả, thích ứng và bền vững trong những năm tới./.
