TPHCM quy định mức trần nhiều khoản thu dịch vụ trường công

Từ 25/9, các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý của TPHCM thực hiện thu, chi hỗ trợ giáo dục theo quy định mới.

UBND TPHCM vừa ban hành Quyết định quy định các khoản thu và mức thu, cơ chế quản lý thu chi đối với dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý của thành phố.

Quy định áp dụng đối với các cơ sở giáo dục công lập, người học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; được áp dụng từ năm học 2026-2027.

Điểm đáng chú ý là các khoản thu dịch vụ phải thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, có sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, người giám hộ hoặc người học, theo hướng lấy thu bù chi và không vượt mức trần được TPHCM quy định.

Theo phụ lục ban hành kèm Quyết định, danh mục dịch vụ được chia thành hai nhóm: Nhóm 1 áp dụng đối với cơ sở giáo dục trên địa bàn phường; Nhóm 2 áp dụng đối với cơ sở giáo dục trên địa bàn xã, đặc khu.

Chuẩn bị năm học mới tại trường THCS Bình Thọ ở TPHCM. Ảnh: Mimosa

Chuẩn bị năm học mới tại trường THCS Bình Thọ ở TPHCM. Ảnh: Mimosa

Trong đó, các khoản thu liên quan trực tiếp đến hoạt động học tập, sinh hoạt của học sinh được quy định khá cụ thể: Với dịch vụ ăn uống, suất ăn sáng có mức trần 20.000 đồng/học sinh/ngày; suất ăn trưa, xế 40.000 đồng/học sinh/ngày và nước uống 20.000 đồng/học sinh/tháng.

Đối với dịch vụ phục vụ bán trú, mức trần dịch vụ phục vụ ăn sáng dao động từ 50.000-220.000 đồng/học sinh/tháng tùy cấp học và nhóm địa bàn. Dịch vụ tổ chức phục vụ, quản lý và vệ sinh bán trú có mức trần từ 230.000-550.000 đồng/học sinh/tháng. Khoản thiết bị, vật dụng phục vụ học sinh bán trú được quy định từ 200.000-450.000 đồng/học sinh/năm.

Dịch vụ đưa đón người học được tính theo quãng đường. Tuyến dưới 5km có mức trần 10.000 đồng/học sinh/km; tuyến từ 5km trở lên là 8.000 đồng/học sinh/km.

Dịch vụ công nghệ, học tập số có mức trần 110.000 đồng/học sinh/tháng. Hoạt động ngoại khóa có mức trần 200.000 đồng/học sinh/hoạt động; hoạt động giáo dục kỹ năng sống từ 80.000-120.000 đồng/học sinh/tháng tùy cấp học và nhóm địa bàn.

Với học sinh có nhu cầu trông giữ, chăm sóc ngoài giờ, mức trần dịch vụ trước và sau giờ học chính khóa là 11.000-12.000 đồng/học sinh/giờ; dịch vụ trông giữ, chăm sóc trong ngày nghỉ, bao gồm nghỉ hè nhưng không gồm ngày lễ, Tết, có mức trần 120.000-128.000 đồng/học sinh/ngày. Các khoản này không bao gồm tiền ăn.

Ngoài ra, dịch vụ tổ chức học bơi an toàn, phòng chống đuối nước có mức trần 700.000 đồng/học sinh/khóa.

Một số khoản phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại trường cũng được quy định mức trần, như sử dụng máy lạnh tại lớp học có máy lạnh. Với lớp đã được trang bị máy lạnh, mức thu tối đa từ 35.000-50.000 đồng/học sinh/tháng; lớp có nhu cầu sử dụng nhưng chưa có máy lạnh và phải thuê, mức trần từ 90.000-110.000 đồng/học sinh/tháng tùy cấp học và nhóm địa bàn.

Phụ huynh cũng cần lưu ý các khoản trông giữ xe học sinh, cha mẹ học sinh được quy định mức trần 2.000 đồng/xe/lượt đối với xe đạp, xe đạp điện và 4.000 đồng/xe/lượt đối với xe máy, xe máy điện. Nếu gửi theo tháng, mức trần tương ứng là 40.000 đồng/xe/tháng và 80.000 đồng/xe/tháng.

Theo quy định, mức trần không đồng nghĩa với việc trường được thu mặc nhiên bằng mức tối đa. Cơ sở giáo dục phải xây dựng dự toán chi tiết cho từng nội dung, bảo đảm tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý và phù hợp điều kiện cơ sở vật chất, nhu cầu của người học.

Đặc biệt, nếu một nội dung đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc được bố trí kinh phí từ nguồn khác, mức thu phải được giảm trừ tương ứng sau khi tính toán phần kinh phí đã được bố trí.

Nhà trường cũng phải tổ chức lấy ý kiến, bảo đảm sự đồng thuận của cha mẹ học sinh trước khi thực hiện các khoản thu; đồng thời có trách nhiệm giải trình về nội dung dịch vụ, mức thu và cơ chế quản lý thu chi.

Tiền thu phải được sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch và thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý tài chính. Thời gian thu không được vượt quá kế hoạch thời gian năm học do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Đáng chú ý, khi kết thúc năm học, nếu khoản thu dịch vụ có chênh lệch thu lớn hơn chi, cơ sở giáo dục phải hoàn trả phần chênh lệch cho người học. Trường hợp thu không đủ chi, nhà trường phải tự tính toán nguồn kinh phí hợp pháp để bù đắp phần thiếu hụt, không được thu thêm từ người học và ngân sách nhà nước không cấp bù.

Đối với các cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, mức thu các dịch vụ thuộc danh mục có thể được xác định tối đa bằng 2 lần mức trần áp dụng cho các cơ sở giáo dục thuộc nhóm quy định chung.

UBND phường, xã, đặc khu có trách nhiệm triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý. Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện trên địa bàn thành phố.

Quy định mới vì vậy không chỉ đặt ra mức trần để kiểm soát các khoản thu, mà đồng thời yêu cầu nhà trường làm rõ căn cứ hình thành mức thu, bảo đảm sự đồng thuận của người học và phụ huynh, cũng như công khai việc sử dụng nguồn thu.

Thanh Giang

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/tphcm-quy-dinh-muc-tran-nhieu-khoan-thu-dich-vu-truong-cong-169260917105646651.htm