Trao sinh kế mở lối thoát nghèo
Đa dạng hóa sinh kế đã và đang khẳng định là hướng đi hiệu quả trong giảm nghèo bền vững. Thực tiễn tại cơ sở cho thấy, khi hỗ trợ đúng nhu cầu, gắn với thực tế sản xuất và có sự đồng hành của chính quyền, người dân đã chủ động vươn lên, từng bước ổn định cuộc sống.
Hỗ trợ đúng đối tượng
Giai đoạn 2020 - 2025, toàn tỉnh triển khai hơn 150 mô hình hỗ trợ sản xuất, thu hút hơn 1,9 nghìn hộ tham gia, trong đó có hàng trăm hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Một số dự án vẫn duy trì hiệu quả như: Nuôi bò sinh sản tại xã Đồng Vương; nuôi dê, thỏ, ong kết hợp trồng rừng tại xã Sơn Động, Tuấn Đạo; trồng cam, bưởi tại xã Lục Sơn, Tân Sơn…
Việc đa dạng hóa sinh kế, phát triển các mô hình sản xuất đã khai thác thế mạnh của địa phương. Những hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia dự án, mô hình không chỉ được hỗ trợ cây, con giống mà còn được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, tạo động lực vươn lên thoát nghèo.

Ông Hoàng Văn Bạn, thôn Hòa Tiến, xã Hợp Thịnh chăm sóc đàn bò.
Ở tuổi 82, ông Hoàng Văn Bạn, thôn Hòa Tiến, xã Hợp Thịnh vẫn là trụ cột của gia đình. Hai ông bà tuổi cao, sống cùng người con trai khuyết tật nên cuộc sống nhiều năm liền thiếu trước hụt sau. Tháng 10/2025, gia đình ông được lựa chọn tham gia dự án đa dạng hóa sinh kế thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và được hỗ trợ 2 con bò thương phẩm.
Ông Bạn chia sẻ: “Có bò rồi, tôi mừng lắm. Được cán bộ hướng dẫn cách chăm sóc, giờ bò lớn nhanh, khỏe mạnh, tôi cũng có thêm hy vọng”. Ông dần học hỏi kỹ thuật, tận dụng nguồn cỏ sẵn có để chăm sóc đàn bò. Sau thời gian nuôi, bò sinh trưởng ổn định, mở ra hướng phát triển kinh tế lâu dài cho gia đình.
Cùng với hộ ông Bạn, năm 2025, xã Hợp Thịnh hỗ trợ thêm 14 hộ nghèo, cận nghèo khác nuôi 28 con bò thương phẩm từ nguồn dự án đa dạng hóa sinh kế giảm nghèo. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, mô hình nuôi bò thương phẩm phù hợp với điều kiện của địa phương, chi phí đầu tư ban đầu không lớn, phù hợp với các hộ nghèo, cận nghèo có ít lao động nhưng có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên.
Để bảo đảm hiệu quả của Chương trình, ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, Phòng Kinh tế xã Hợp Thịnh đã phối hợp chặt chẽ với các thôn tổ chức rà soát, lựa chọn đúng đối tượng thụ hưởng. Cán bộ được phân công trực tiếp xuống từng hộ trong danh sách dự kiến để khảo sát thực tế, nắm bắt nhu cầu, điều kiện chăn nuôi trước khi triển khai hỗ trợ. Cách làm này giúp hạn chế tình trạng hỗ trợ dàn trải, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người dân trong quá trình tham gia dự án. Thực tế cho thấy, các hộ được thụ hưởng đều chủ động chăm sóc tốt cho đàn bò, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực.
Cũng từ những dự án hỗ trợ sinh kế, nhiều gia đình có điều kiện vươn lên thoát nghèo. Ví như hộ bà Đỗ Thị Hiển, thôn Am Hà, xã Tuấn Đạo. Năm 2019, từ 100 cây keo được hỗ trợ, cùng với sự kiên trì và chịu khó học hỏi, đến nay gia đình bà đã trồng hơn 2 nghìn cây trên diện tích 1,3 ha. Có thu nhập ổn định, năm 2022, bà chủ động viết đơn xin thoát nghèo.
Phân bổ vốn hợp lý
Theo Quyết định phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 của UBND tỉnh, nếu áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh còn hơn 4,8 nghìn hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,56%; hơn 13,5 nghìn hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,58%.
Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (giai đoạn 1: 2026 - 2030) xác định rõ mục tiêu xây dựng nông thôn mới hiện đại, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, bền vững, gắn với giảm nghèo đa chiều.
Giai đoạn 2020 - 2025, toàn tỉnh triển khai hơn 150 mô hình hỗ trợ sản xuất, thu hút hơn 1,9 nghìn hộ tham gia, trong đó có hàng trăm hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo.
Phấn đấu đến năm 2030, thu nhập bình quân người dân nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước duy trì mức giảm 1-1,5%/năm. Nguồn lực thực hiện giai đoạn 2026-2030 khoảng 423 nghìn tỷ đồng, ưu tiên tập trung cho vùng khó khăn, tránh dàn trải.
Tại xã Đồng Kỳ, lãnh đạo địa phương giao trách nhiệm cho từng phòng chuyên môn, tổ chức chính trị - xã hội trong triển khai và đánh giá kết quả giảm nghèo hằng năm. Dựa vào đặc thù, mỗi thôn, tổ chức thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh lựa chọn từ 1-2 mô hình sản xuất phù hợp để hỗ trợ nhân rộng.
Nổi bật là mô hình nuôi hươu lấy nhung. Gia đình ông Lê Văn Cường, thôn Trại Vanh là một trong những hộ đi đầu. Ban đầu ông chỉ nuôi vài con, qua nhiều lần học hỏi kinh nghiệm, ông từng bước mở rộng quy mô, có thời điểm đàn hươu lên tới hơn 20 con. Sau khoảng 18 tháng, hươu đực bắt đầu cho nhung. Đến nay mỗi năm gia đình ông thu hàng chục kg nhung, doanh thu hàng trăm triệu đồng. Từ một mô hình nhỏ lẻ, nghề nuôi hươu đã dần nhân rộng, trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả của địa phương. Tổng đàn hươu trên địa bàn xã khoảng 500 con.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Tuyền, Bí thư Đảng ủy xã Đồng Kỳ, Đảng ủy đã giao UBND xã phối hợp với ngành chức năng triển khai đăng ký nhãn hiệu, chuẩn hóa quy trình chăn nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu để xây dựng các mô hình, dự án giảm nghèo phù hợp; không chỉ phân bổ nguồn vốn hợp lý, địa phương còn khuyến khích các hộ khá hỗ trợ con giống, kỹ thuật chăn nuôi giúp các hộ nghèo khởi nghiệp. Mục tiêu là nâng giá trị sản phẩm, tạo đầu ra ổn định, giúp người dân yên tâm sản xuất, góp phần giảm nghèo bền vững.
Theo đồng chí Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thời gian tới, Sở tham mưu với UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo trên cơ sở phân bổ hợp lý nguồn hỗ trợ. Trong đó, ưu tiên kinh phí cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; nhân rộng các mô hình, dự án sản xuất, nâng cao thu nhập, hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững; đồng thời đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm, tăng cường liên kết tiêu thụ, từng bước hình thành chuỗi giá trị.
Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/trao-sinh-ke-mo-loi-thoat-ngheo-postid443069.bbg











