Trí thức trẻ - nguồn lực đổi mới sáng tạo cần được phát huy
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng của phát triển, đội ngũ trí thức trẻ trong doanh nghiệp được kỳ vọng là lực lượng trực tiếp đưa tri thức, công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh.

Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học. (Ảnh: NVCC)
Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận trí thức trẻ vẫn đang làm những công việc chưa phù hợp với chuyên môn, tỷ lệ tham gia nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp, trong khi sự liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học chưa chặt chẽ.
Trao đổi với phóng viên, Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất để khơi thông và phát huy nguồn lực trí thức trẻ doanh nghiệp.
Phóng viên: Thưa Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, ông đánh giá như thế nào về vai trò của trí thức trẻ trong các doanh nghiệp hiện nay, nhất là khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu ngày càng cấp thiết?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo áp lực đổi mới đối với mọi doanh nghiệp và nguồn nhân lực trẻ. Trong bối cảnh đó, trí thức trẻ doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tiếp nhận, ứng dụng và lan tỏa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là lực lượng có khả năng chuyển hóa tri thức, công nghệ và những ý tưởng mới thành sản phẩm, quy trình và giá trị cụ thể cho doanh nghiệp.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược. Điều đó đặt ra yêu cầu phải phát huy tốt hơn nguồn nhân lực trẻ có tri thức, kỹ năng và khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của trí thức trẻ đã được doanh nghiệp ghi nhận khá rõ. Có 78,2% ý kiến cho rằng đội ngũ này có vai trò thúc đẩy đổi mới sản phẩm, dịch vụ; 76,8% đánh giá họ góp phần ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất; 74,5% cho rằng họ giúp nâng cao năng suất lao động. Bên cạnh đó, 72,3% ý kiến ghi nhận trí thức trẻ tham gia định hướng chiến lược doanh nghiệp; 71,6% đánh giá họ có vai trò trong cải tiến quy trình, tổ chức quản lý. Như vậy, có thể thấy nhận thức về vai trò của trí thức trẻ đã tương đối rõ. Vấn đề hiện nay là làm thế nào để biến tiềm năng đó thành năng lực đổi mới sáng tạo thực tế.
Một điểm đáng lưu ý là năng lực chuyên môn của đội ngũ trí thức trẻ nhìn chung khá khả quan. Có 71,4% được đánh giá tốt về kiến thức chuyên môn; 68,3% tốt về kỹ năng thực hành, ứng dụng; 67,1% tốt về khả năng giải quyết vấn đề và 65,8% tốt về tư duy sáng tạo, đổi mới. Năng lực ứng dụng công nghệ cũng đang được cải thiện.
Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ, một bộ phận có năng lực lại chưa được sử dụng đúng với chuyên môn. 40,1% trí thức khoa học và công nghệ trẻ đang làm công việc hành chính, văn phòng, kế toán; 25,1% làm kinh doanh, bán hàng; trong khi kỹ thuật, công nghệ chỉ chiếm 18,7% và nghiên cứu - phát triển (R&D) là 12,4%.
Đây là điều cần suy nghĩ. Nếu người có trình độ chuyên môn khoa học, công nghệ nhưng phần lớn thời gian lại dành cho những công việc hỗ trợ, hành chính thì doanh nghiệp đang có nguy cơ lãng phí một nguồn lực quan trọng cho đổi mới sáng tạo.
Phóng viên: Tại sao có sự chênh lệch giữa năng lực của trí thức trẻ và mức độ tham gia thực tế vào hoạt động đổi mới sáng tạo, thưa ông?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Có nhiều nguyên nhân và cần nhìn nhận vấn đề trong tổng thể hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Trước hết là đặc điểm của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). SMEs chiếm tới 97,3% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và tạo việc làm. Tuy nhiên, quy mô nhỏ cũng đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp còn hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân lực chuyên sâu. Khả năng nghiên cứu-phát triển và đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với vai trò của khu vực này trong nền kinh tế.
Cơ cấu hoạt động của SMEs hiện vẫn nghiêng nhiều về thương mại-dịch vụ. Tổng nhóm dịch vụ thương mại chiếm 46%; trong đó bán buôn, bán lẻ chiếm 21,4%, xây dựng 19,2%, chế biến, chế tạo 15,5%. Cơ cấu này cũng tác động trực tiếp đến cơ hội tham gia R&D và đổi mới sáng tạo của trí thức trẻ.

Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh phát biểu tại hội thảo khoa học về trí thức trẻ do Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức vào tháng 7/2026. (Ảnh: LÊ HỒNG)
Điểm đáng chú ý thứ hai là doanh nghiệp đã có nhận thức khá cao về khoa học và công nghệ nhưng việc triển khai các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo chưa thường xuyên. Trên 80% SMEs quan tâm, định hướng ứng dụng khoa học, công nghệ; 87,3% có đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học lại dưới 15%. Chỉ khoảng 30% doanh nghiệp triển khai thường xuyên các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Điều này cho thấy một khoảng cách khá rõ giữa nhận thức và hành động.
Muốn đổi mới sáng tạo thành công, doanh nghiệp không thể chỉ mua máy móc, thiết bị mới. Đổi mới sáng tạo phải bao gồm cả đổi mới sản phẩm, quy trình, công nghệ số, tổ chức quản lý, hoạt động R&D và những sáng kiến cải tiến liên tục từ người lao động.
Một điểm nghẽn khác là tình trạng trí thức trẻ phải kiêm nhiệm nhiều công việc. Do SMEs thiếu nhân lực chuyên sâu, một người có thể phải đảm nhiệm nhiều vai trò. Điều này giúp doanh nghiệp giải quyết công việc trước mắt nhưng lại làm giảm chiều sâu chuyên môn và hiệu quả đổi mới sáng tạo. Tỷ lệ tham gia R&D thấp chưa tương xứng với tiềm năng của đội ngũ trí thức trẻ.
Đáng lưu ý, khoảng cách giữa đào tạo và thực tế cũng là một vấn đề. Nghiên cứu cho thấy 55,3% có khoảng cách giữa đào tạo và công việc thực tế. Trong khi đó, năng lực nghiên cứu lý thuyết được đánh giá tốt chỉ ở mức 48,7%; ngoại ngữ ở mức 52,3%. Đây là những năng lực cần tiếp tục được bồi dưỡng nếu muốn trí thức trẻ tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu, hợp tác quốc tế và đổi mới sáng tạo.
Phóng viên: Theo ông, doanh nghiệp cần thay đổi như thế nào để đội ngũ trí thức trẻ thực sự trở thành lực lượng nòng cốt của đổi mới sáng tạo?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Theo tôi, trước hết doanh nghiệp phải thay đổi cách nhìn về người trẻ. Không nên chỉ coi trí thức trẻ là lực lượng lao động có trình độ mà phải coi họ là nguồn lực đổi mới sáng tạo.
Điều đầu tiên là sử dụng đúng người, đúng việc và mạnh dạn trao quyền. Một kỹ sư công nghệ, một chuyên gia nghiên cứu hay một người được đào tạo bài bản về khoa học và công nghệ cần có cơ hội làm công việc phù hợp với năng lực. Khi được giao nhiệm vụ đúng chuyên môn, họ mới có thể phát huy sáng kiến và tạo ra giá trị.
Thứ hai là xây dựng văn hóa thử nghiệm, học hỏi và chia sẻ. Đổi mới sáng tạo không thể tách rời thử nghiệm. Có thử nghiệm thì có thể có thất bại. Nếu người trẻ luôn sợ sai, sợ trách nhiệm hoặc không được khuyến khích đề xuất ý tưởng mới thì rất khó tạo ra đổi mới thực chất.
Thứ ba là đầu tư. Doanh nghiệp cần dành nguồn lực phù hợp cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đầu tư cho đào tạo nhân lực. Trong nghiên cứu, chúng tôi đề xuất doanh nghiệp có thể dành khoảng 10-15% nguồn vốn phù hợp cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Thứ tư là phải có cơ chế đãi ngộ và ghi nhận sáng kiến. Nhu cầu của trí thức trẻ khá rõ: 60,1% mong muốn thu nhập cao hơn; 47,9% mong muốn được làm việc đúng năng lực; 47,6% có nhu cầu được đào tạo, tập huấn nâng cao; 45,1% mong muốn nhận được sự hỗ trợ, cởi mở từ lãnh đạo. Đây không chỉ là câu chuyện tiền lương. Người trẻ cần nhìn thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp, được học hỏi, được thử sức và được ghi nhận.
Nếu doanh nghiệp không tạo được môi trường như vậy thì việc giữ chân người trẻ có năng lực sẽ rất khó. Đáng chú ý, nghiên cứu cho thấy 54,8% trí thức trẻ được khảo sát có ý định khởi nghiệp riêng. Điều này vừa là tín hiệu về tinh thần chủ động, sáng tạo, nhưng cũng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải tạo môi trường đủ hấp dẫn để người trẻ muốn gắn bó và phát triển cùng doanh nghiệp.
Một giải pháp rất quan trọng nữa là tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học và startup. Doanh nghiệp nhỏ và vừa không phải lúc nào cũng đủ nguồn lực để tự xây dựng phòng thí nghiệm hay đội ngũ R&D lớn. Vì vậy, liên kết và chia sẻ nguồn lực là cách hiệu quả để tiếp cận tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Phóng viên: Như vậy, vai trò của Nhà nước và các tổ chức trung gian trong việc khơi thông nguồn lực trí thức trẻ cần được nhìn nhận như thế nào?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Tôi cho rằng đây là vấn đề mang tính hệ sinh thái. Không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp thay đổi hay yêu cầu người trẻ tự nâng cao năng lực, mà cần có sự đồng hành của Nhà nước và các tổ chức trung gian.
Với Nhà nước, trước hết cần tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. SMEs cần được tiếp cận tốt hơn với nguồn vốn, các chương trình hỗ trợ, hạ tầng công nghệ dùng chung, chính sách ưu đãi và các chương trình nghiên cứu ứng dụng. Đồng thời, cần có chính sách phù hợp để phát triển nguồn nhân lực trẻ.
Các viện nghiên cứu, trường đại học cũng cần thay đổi theo hướng tăng tính thực hành, ứng dụng và gắn chương trình đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Nếu đào tạo và sử dụng nhân lực vẫn tồn tại khoảng cách thì chúng ta khó khai thác đầy đủ tiềm năng của đội ngũ trí thức trẻ.
Các hiệp hội doanh nghiệp cần phát huy vai trò kết nối SMEs với nguồn lực khoa học, công nghệ; tạo diễn đàn để doanh nghiệp chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm đối tác đổi mới sáng tạo. Các tổ chức tài chính cần nghiên cứu những sản phẩm phù hợp để hỗ trợ vốn cho các dự án đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Với chính trí thức trẻ, cũng cần nhấn mạnh vai trò chủ động. Người trẻ phải không ngừng học hỏi, cập nhật tri thức và công nghệ mới; nâng cao ngoại ngữ, kỹ năng mềm, năng lực quản trị dự án; chủ động đề xuất sáng kiến và thử nghiệm những giải pháp mới trong công việc. Đồng thời cần xây dựng mạng lưới nghề nghiệp, quan hệ hợp tác chuyên môn và xác lập định hướng phát triển nghề nghiệp rõ ràng.
Tôi cho rằng mục tiêu cuối cùng là hình thành một hệ sinh thái trong đó mỗi chủ thể đều có vai trò rõ ràng: Nhà nước tạo thể chế, tài chính và hạ tầng; doanh nghiệp đầu tư, tạo môi trường sáng tạo và cơ chế đãi ngộ; trí thức trẻ chủ động học hỏi, sáng tạo và kết nối; các tổ chức trung gian làm cầu nối giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.
Phóng viên: Nếu phải lựa chọn một thông điệp quan trọng nhất từ nghiên cứu này, ông muốn gửi gắm điều gì?
Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh: Tôi muốn nhấn mạnh rằng tiềm năng của trí thức trẻ doanh nghiệp Việt Nam còn rất lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 66% được đánh giá có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu công việc; trên 70% ý kiến ghi nhận vai trò của họ trong doanh nghiệp; trên 80% SMEs có nhận thức cao về khoa học, công nghệ.
Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào những bất cập: khoảng 40% trí thức trẻ làm công việc hành chính, chưa đúng chuyên môn; 55,3% nhận thấy khoảng cách giữa đào tạo và thực tế; tỷ lệ liên kết doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học dưới 15%; nguồn lực đầu tư còn hạn chế và cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức hấp dẫn.
Vì vậy, điều cần làm ngay là thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và khả năng phát huy. Mỗi trí thức trẻ phải được đặt vào đúng vị trí, được giao việc phù hợp, được đào tạo, được trao quyền và được khuyến khích sáng tạo.
Đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế-xã hội trong kỷ nguyên 4.0. Nếu phát huy tốt trí thức trẻ, chúng ta không chỉ tạo ra những sáng kiến cho từng doanh nghiệp mà còn tạo dựng một nguồn lực tri thức quan trọng cho nền kinh tế…
Phóng viên: Xin cảm ơn Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh!











