Trong ấm, ngoài êm; nội yên, ngoại tĩnh: 'Đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại' với tư duy đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ động kiến tạo

Quan điểm, chủ trương của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới, được thể hiện qua các nghị quyết mới của Đảng cùng những chỉ đạo, bài viết quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phản ánh những bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam, phù hợp với vị thế, tiềm lực và khát vọng phát triển của đất nước.

LỜI TÒA SOẠN:

“Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động” – tư tưởng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từ hơn bảy thế kỷ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc và trí tuệ cha ông; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định tăng cường đối ngoại và Hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời là một trong những động lực quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Trên tinh thần đó, Tạp chí Việt Mỹ thực hiện loạt 5 bài viết với chủ đề: "Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động”, với mong muốn lan tỏa và đóng góp ý kiến xây dựng cho đường lối đối ngoại “trong ấm, ngoài êm; nội yên, ngoại tĩnh” của Đảng và Nhà nước ta đang theo đuổi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Loạt bài viết được thực hiện bởi nhóm tác giả bao gồm các nhà khoa học, nhà báo: Tiến sĩ Nguyễn Thắng Cảnh; Thạc sĩ Chính trị học Đào Ngọc Tước và nhà báo Vũ Văn Ninh của Tạp chí Việt - Mỹ.

Trân trọng gửi tới Quý độc giả.

Bài 1: “Đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại” với tư duy đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ động kiến tạo

Tư tưởng đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới kế thừa, phát huy sáng tạo, hiệu quả từ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và trí tuệ cha ông (Ảnh: Vũ Ninh)

Tư tưởng đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới kế thừa, phát huy sáng tạo, hiệu quả từ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và trí tuệ cha ông (Ảnh: Vũ Ninh)

Trong bối cảnh tình hình thế giới đang có những biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới.

Các Nghị quyết của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế, cùng những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đã thể hiện những bước phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam, hướng tới mục tiêu nâng tầm vị thế đất nước, chủ động kiến tạo môi trường hòa bình, mở rộng không gian phát triển và đóng góp tích cực hơn vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới.

Trao đổi với Tạp chí Việt Mỹ, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội Việt - Mỹ đã phân tích những nội dung cốt lõi của tư duy đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới; từ cách tiếp cận các nghị quyết của Đảng, nhận diện những điểm phát triển mới trong tư duy đối ngoại đến yêu cầu kiến tạo môi trường chiến lược, mở rộng không gian phát triển, phát huy sức mạnh mềm quốc gia và nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

PV: Thưa Đại sứ, để nhận diện đầy đủ tư duy đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, cần tiếp cận các nghị quyết của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế cũng như những chỉ đạo, bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm như thế nào?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Ngày 11/6/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều chỉ đạo quan trọng tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 06 về đối ngoại nhằm thực hiện chủ trương của Đảng ta về công tác ngoại giao trong tình hình mới đã được thông qua tại Đại hội XIV của Đảng. Theo tôi, để hiểu đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 06 cũng như tầm nhìn đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn mới, cần đặt nghị quyết này trong tổng thể các nghị quyết chiến lược về phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Điều rất đáng chú ý là Nghị quyết số 06 không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế và nhiều nghị quyết chiến lược khác của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, văn hóa, y tế, phát triển kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), hoàn thiện thể chế và phát triển đất nước. Tất cả tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó đối ngoại và hội nhập quốc tế giữ vai trò kết nối, mở đường và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển quốc gia.

Bên cạnh đó, để nhận diện đầy đủ những bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam, theo tôi cần nghiên cứu đồng thời các bài phát biểu, bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Tô Lâm trong thời gian gần đây.

Đó là bài phát biểu quán triệt Nghị quyết số 06 ngày 11/6/2026; bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ngày 29/5/2026 về tình hình thế giới, khu vực và chính sách đối ngoại của Việt Nam; bài viết "Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới" (22/2/2026); và bài viết "Vươn mình trong hội nhập quốc tế" (3/4/2025).

Chỉ khi đặt Nghị quyết số 06 trong tổng thể các nghị quyết chiến lược của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế, đồng thời nghiên cứu xuyên suốt các bài phát biểu, bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Tô Lâm, chúng ta mới có thể nhận diện đầy đủ thông điệp, tầm nhìn và những bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, trong khi môi trường quốc tế cũng có những biến chuyển mang tính thời đại. Theo ông, điều đó đặt ra yêu cầu như thế nào đối với việc đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Sự phát triển và đổi mới trong tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta được hình thành trên nền tảng những chuyển biến to lớn của đất nước đang vươn mình vào kỷ nguyên mới, đồng thời xuất phát từ những biến động sâu sắc, mang tính thời đại của tình hình thế giới.

Trước hết, tư duy đối ngoại mới được xây dựng trên cơ sở tâm thế mới, năng lực mới và vị thế mới của đất nước. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đường lối đối ngoại phải được nâng tầm tương xứng với tiềm lực, vị thế và vai trò ngày càng cao của đất nước. Đồng thời, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao.

Bên cạnh đó, bối cảnh thế giới đang có những chuyển biến rất nhanh, sâu sắc và mang tính thời đại. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi mô hình phát triển; cùng với đó là những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng đan xen.

Tất cả đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác đối ngoại của Việt Nam. Tư duy đối ngoại trong giai đoạn hiện nay phải đồng thời đáp ứng ba yêu cầu:

Thứ nhất, phải kế thừa và phát huy những thành tựu của gần 40 năm đổi mới, coi đó là nền tảng để tiếp tục nâng tầm đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, phải tương xứng với tầm nhìn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, phù hợp với mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ ba, phải thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, chủ động nắm bắt các xu thế mới để phục vụ sự phát triển của đất nước.

Trong đó các nghị quyết chiến lược quan trọng như Nghị quyết Đại hội XIV, nghị quyết số 06, nghị quyết số 59 và các quan điểm, tư tưởng của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là kim chỉ nam đã nâng tầm tư duy đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời đại mới.

Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội Việt - Mỹ.

Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội Việt - Mỹ.

Trên cơ sở các nghị quyết mới của Đảng về đối ngoại, hội nhập quốc tế và những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, theo Đại sứ, tư duy đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên mới có những bước phát triển và nâng cấp nào đáng chú ý?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Để nghiên cứu sâu về vấn đề này, trước hết cần nắm vững 5 luận điểm lớn và 5 định hướng lớn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu trong bài phát biểu quán triệt Nghị quyết số 06. Trên cơ sở đó, tôi cho rằng tư duy đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới có 8 điểm nổi bật cần đặc biệt quan tâm:

Thứ nhất, nâng tầm đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước.

Thứ hai, chủ động kiến tạo môi trường chiến lược thuận lợi cho hòa bình, an ninh và phát triển của Việt Nam.

Thứ ba, đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế trở thành động lực mở rộng không gian và tạo lập các cơ hội phát triển mới cho đất nước.

Thứ tư, nâng tầm bản sắc, giá trị và sức mạnh mềm của Việt Nam trong hoạt động đối ngoại.

Thứ năm, chủ động đóng góp nhiều hơn vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới với tinh thần trách nhiệm cao.

Thứ sáu, chuyển từ tư duy tham gia, tiếp nhận và thích ứng sang tư duy chủ động kiến tạo trong đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Thứ bảy, đặt Việt Nam vào dòng chảy chính của thời đại để chủ động nắm bắt cơ hội phát triển và đóng góp tích cực vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

Thứ tám, biến tầm nhìn chiến lược về đối ngoại thành hành động thực chất, đồng bộ và hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị.

Trong 8 điểm này, tôi nhấn mạnh sự chuyển biến từ tư duy "tham gia, thích ứng và tiếp nhận" sang tư duy "chủ động kiến tạo, xây dựng và đóng góp".

Điều đó có nghĩa là đối ngoại Việt Nam không chỉ chủ động kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và an ninh chiến lược phục vụ phát triển đất nước, mà còn tích cực tham gia đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh mục tiêu phục vụ phát triển đất nước, theo ông, tư duy đối ngoại mới của Việt Nam được thể hiện như thế nào trong việc nâng cao vị thế quốc gia và phát huy vai trò, trách nhiệm đối với khu vực và thế giới?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Theo tôi, một trong những điểm mới rất quan trọng của tư duy đối ngoại hiện nay là tiếp tục nâng tầm vị thế, bản sắc và sức mạnh mềm của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Điều đó trước hết được thể hiện ở việc phát huy những giá trị văn hóa và bản sắc của dân tộc Việt Nam, như truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hợp tác, cùng có lợi và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Đây là những giá trị đã được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời cũng là những giá trị mà Việt Nam có thể đóng góp cho cộng đồng quốc tế trong bối cảnh hiện nay.

Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh một thông điệp rất đáng suy ngẫm: “Việt Nam từng trải qua chiến tranh nên thấu hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình”.

Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, việc xây dựng lòng tin chiến lược, củng cố chủ nghĩa đa phương, đề cao luật pháp quốc tế và thúc đẩy hợp tác cùng có lợi càng trở nên quan trọng. Đó cũng chính là bản sắc và giá trị mà đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục phát huy và lan tỏa.

Một điểm mới khác là Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế không chỉ để phát triển đất nước mà còn với tinh thần chủ động đóng góp nhiều hơn vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới.

Sự phát triển, hòa bình và an ninh của Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Vì vậy, Việt Nam không chỉ là một quốc gia tham gia mà cần trở thành một thành viên có trách nhiệm, tích cực đóng góp vào việc củng cố trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần chung tay cùng cộng đồng quốc tế ứng phó với những thách thức mang tính toàn cầu, từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh, nước biển dâng đến các vấn đề an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống và những lĩnh vực quản trị toàn cầu mới như trí tuệ nhân tạo. Đây đều là những vấn đề không một quốc gia nào có thể tự giải quyết mà đòi hỏi sự hợp tác và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.

Bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam từ tư duy hội nhập để phát triển sang tư duy hội nhập để cùng phát triển và cùng đóng góp đã phản ánh vị thế mới, trách nhiệm mới và khát vọng ngày càng lớn của đất nước ta đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như thế giới.

Để hiện thực hóa tư duy đối ngoại mới trong kỷ nguyên phát triển của đất nước, theo Đại sứ, Việt Nam cần có tầm nhìn và chương trình hành động như thế nào để vừa nắm bắt được những xu thế lớn của thời đại, vừa phát huy vai trò chủ động trong đời sống quốc tế?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Một trong những tư tưởng chỉ đạo mà tôi đặc biệt tâm đắc trong các bài viết và phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu đưa “Việt Nam vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”. Tư tưởng này có hai ý nghĩa rất quan trọng:

Thứ nhất, Việt Nam phải chủ động đặt mình vào những xu thế lớn của thời đại như hòa bình, hợp tác và phát triển; chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây đều là những xu thế đang định hình tương lai của thế giới. Quốc gia nào không theo kịp hoặc không biết tận dụng sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu. Ngược lại, nếu chủ động nắm bắt được dòng chảy của thời đại, Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, đặt Việt Nam vào dòng chảy chính của thời đại còn có nghĩa là chủ động tham gia và đóng góp vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

Trong lĩnh vực chính trị, Việt Nam tiếp tục kiên trì thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; mọi tranh chấp và bất đồng cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình.

Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam không chỉ tham gia vào nền kinh tế toàn cầu mà còn cần chủ động tham gia xây dựng các luật chơi, các chuẩn mực và các cơ chế hợp tác về thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ cũng như các lĩnh vực mới của nền kinh tế thế giới.

Đối với nền văn minh nhân loại, Việt Nam cần tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc như hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hợp tác, tôn trọng luật pháp quốc tế và tinh thần cùng phát triển. Đây chính là bản sắc và cũng là đóng góp của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, mọi tầm nhìn chiến lược chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, phát huy hiệu quả vai trò của ba trụ cột gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời xây dựng các chương trình hành động cụ thể, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành và tiếp tục kiện toàn cơ chế chỉ đạo thống nhất về đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Cùng với đó là xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của hội nhập quốc tế.

Việt Nam chủ động làm bạn, là đối tác tin cậy, trách nhiệm với tất cả các quốc gia trên thế giới, đảm bảo môi trường hòa bình thế giới (Ảnh: Vũ Ninh)

Việt Nam chủ động làm bạn, là đối tác tin cậy, trách nhiệm với tất cả các quốc gia trên thế giới, đảm bảo môi trường hòa bình thế giới (Ảnh: Vũ Ninh)

Một trong những nội dung được nhấn mạnh trong các nghị quyết mới của Đảng là yêu cầu chủ động kiến tạo môi trường chiến lược thuận lợi cho phát triển đất nước. Theo ông, tư duy mới về xây dựng môi trường chiến lược của Việt Nam cần được nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh hiện nay?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Đây là một trong những điểm phát triển rất mới trong tư duy đối ngoại của Việt Nam.

Trước đây, chúng ta luôn xác định nhiệm vụ quan trọng của đối ngoại là góp phần củng cố và giữ vững môi trường chiến lược thuận lợi cho đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hiện nay với những biến động nhanh chóng, sâu sắc và khó lường, cách tiếp cận đó cũng cần được phát triển lên một tầm cao mới.

Môi trường chiến lược ngày nay không chỉ chịu tác động bởi cạnh tranh giữa các nước lớn, những khác biệt về địa chính trị hay các cuộc khủng hoảng quốc tế, mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi sự phát triển đột phá của khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và những không gian hợp tác mới.

Chính vì vậy, tư duy đối ngoại không thể chỉ dừng lại ở việc “thích ứng, chờ đợi” mà phải chuyển sang tư duy “chủ động kiến tạo”.

Trước hết, Việt Nam phải chủ động kiến tạo lòng tin chiến lược với các đối tác, xây dựng quan hệ hợp tác ổn định, bền vững và lâu dài. Đồng thời, phải biến những quan hệ chính trị tốt đẹp thành những cơ hội hợp tác cụ thể về kinh tế, đầu tư, khoa học - công nghệ và phát triển cùng có lợi.

Một điểm mới nữa là không gian chiến lược ngày nay không còn chỉ giới hạn ở những yếu tố truyền thống như lãnh thổ hay quốc phòng - an ninh, mà đã mở rộng sang các không gian mới như văn hóa, thông tin, không gian mạng và không gian số. Vì vậy, việc kiến tạo môi trường chiến lược cũng phải được nhìn nhận toàn diện hơn, bao quát cả các yếu tố cứng và mềm, nhằm tạo dựng môi trường hòa bình, an ninh và phát triển bền vững cho đất nước.

Từ tư duy đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế cũng cần chuyển mạnh sang tư duy chủ động kiến tạo không gian và cơ hội phát triển mới cho Việt Nam.

Trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu của Việt Nam không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn phải phát triển chất lượng cao và bền vững. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải chủ động nâng cấp nền kinh tế, xây dựng hệ sinh thái đủ sức thu hút các dòng vốn FDI thế hệ mới, lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn và thúc đẩy chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển đất nước.

Cùng với đó, tư duy mở rộng thị trường cũng cần được đổi mới. Không chỉ mở rộng thị trường theo không gian địa lý, Việt Nam còn phải chủ động chinh phục các phân khúc thị trường chất lượng cao thông qua việc đáp ứng những tiêu chuẩn mới về phát triển xanh, giảm phát thải, bảo vệ sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn quốc tế khác. Đồng thời, cần chủ động tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các chuỗi cung ứng toàn cầu và tận dụng hiệu quả mạng lưới các hiệp định thương mại tự do để nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị quốc tế.

Một điểm rất quan trọng khác trong việc xây dựng môi trường chiến lược là tư tưởng “tự cường và tự chủ chiến lược”.

Trong điều kiện thế giới có nhiều biến động, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, việc phát huy nội lực và nâng cao năng lực tự cường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là sự phát triển mới của tư duy độc lập, tự chủ trong đối ngoại, vừa kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng có lợi.

Tự cường và tự chủ chiến lược không chỉ giúp Việt Nam nâng cao sức chống chịu trước những biến động của thế giới, định vị đúng vai trò và lợi ích chiến lược của mình, mà còn tạo điều kiện để tranh thủ hiệu quả các nguồn lực từ tất cả các đối tác, kể cả trong bối cảnh giữa họ tồn tại cạnh tranh và khác biệt. Theo tôi, đó chính là nền tảng để Việt Nam vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa chủ động hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai đường lối đối ngoại toàn diện, hiện đại và chủ động hội nhập quốc tế, trụ cột đối ngoại nhân dân cần được định vị và phát huy như thế nào để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Trong tư duy chiến lược mới về đối ngoại của Việt Nam, đối ngoại nhân dân có vai trò hết sức quan trọng và cần được nhìn nhận trong tổng thể nền đối ngoại toàn diện của đất nước.

Thứ nhất, đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột của nền đối ngoại Việt Nam, cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước. Ba trụ cột này có mối quan hệ gắn bó, bổ trợ lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược về phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, đối ngoại nhân dân của Việt Nam đã được hun đúc và thử thách qua lịch sử, từ đó hình thành nên những giá trị rất đặc sắc. Đó là tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển. Những giá trị đó không chỉ góp phần xây dựng tình cảm, sự tin cậy và hiểu biết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, mà còn tạo nền tảng xã hội vững chắc để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh mới, những giá trị ấy càng cần được tiếp tục phát huy.

Thứ ba, thế giới đang chứng kiến nhiều biến động sâu sắc, không chỉ về lợi ích mà cả trong cách nhìn nhận đối với nhiều vấn đề toàn cầu. Có những vấn đề trước đây từng được cộng đồng quốc tế nhìn nhận thống nhất, như chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu hay các nguyên tắc của thương mại quốc tế dựa trên hệ thống luật lệ của Liên hợp quốc và WTO, thì nay cũng đang xuất hiện những cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Điều đó đặt ra yêu cầu đối ngoại nhân dân cũng phải không ngừng đổi mới, thích ứng với những biến động của tình hình thế giới, chủ động tham gia sâu hơn vào các phong trào nhân dân và các diễn đàn quốc tế, qua đó góp phần tăng cường sự hiểu biết, đồng thuận và hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia.

Thứ tư, trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, trong đó có các cơ quan và tổ chức liên quan đến đối ngoại nhân dân, việc nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân càng trở nên quan trọng. Mục tiêu là tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền đối ngoại Việt Nam, phát huy cao nhất ảnh hưởng và vị thế của đất nước, đồng thời huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực và chủ động của các tầng lớp nhân dân vào công tác đối ngoại.

Thứ năm, yếu tố con người có ý nghĩa quyết định. Đội ngũ làm công tác đối ngoại nhân dân cần tiếp tục nâng cao trình độ, năng lực và tư duy hội nhập. Đồng thời, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để mỗi người dân Việt Nam, trên cương vị và lĩnh vực công tác của mình, đều có thể trở thành một "đại sứ" quảng bá hình ảnh đất nước, góp phần nâng cao vị thế quốc gia và thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Điều đó không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức đối ngoại nhân dân mà còn cần sự tham gia của các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp, các hội hữu nghị và toàn xã hội.

Trong bức tranh tổng thể về sự phát triển của Việt Nam gắn liền với sự thay đổi về tư duy, đường lối đối ngoại, cá nhân ông kỳ vọng và cho rằng điều gì là quan trọng nhất?

Đại sứ Phạm Quang Vinh: Điều quan trọng nhất là phải biến những tư duy mới thành hành động thực tiễn. Các nghị quyết của Đảng và những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Tô Lâm Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác lập một tầm nhìn rất rõ về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện như thế nào để những định hướng đó thực sự đi vào cuộc sống.

Muốn làm được điều đó, trước hết cần có sự thống nhất về nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, coi đối ngoại và hội nhập quốc tế không chỉ là nhiệm vụ của ngành ngoại giao mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của ba trụ cột gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh, trình độ và tư duy đổi mới để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Theo tôi, trong mọi hoàn cảnh, Việt Nam vẫn phải kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đóng góp có trách nhiệm vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như thế giới.

Tôi tin rằng, với nền tảng đã được xây dựng sau 40 năm đổi mới, cùng những định hướng chiến lược mới của Đảng, đối ngoại Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế đất nước và góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Qua cuộc trao đổi với Đại sứ Phạm Quang Vinh có thể thấy, những đổi mới trong tư duy đối ngoại của Đảng không chỉ là sự điều chỉnh về phương thức hoạt động đối ngoại, mà còn phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Việt Nam trước những biến động của thời đại.

Với nền tảng độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và tinh thần chủ động kiến tạo, đối ngoại Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò là lực lượng tiên phong trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế quốc gia và đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực cũng như thế giới.

Theo Thạc sĩ Đào Ngọc Tước – Vũ Ninh, Tạp chí Việt Mỹ

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/trong-am-ngoai-em-noi-yen-ngoai-tinh-dat-dat-nuoc-vao-dong-chay-chinh-cua-thoi-dai-voi-tu-duy-doi-ngoai-doc-lap-tu-chu-chu-dong-kien-tao-a33932.html