Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia: Làm thế nào để tạo cực tăng trưởng mới?
Không chỉ là những nhà máy lớn
Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định định hướng hình thành các Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia, tích hợp khí, LNG, điện, lọc, hóa dầu và năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế.
Đáng chú ý, chủ trương này không chỉ nhằm bổ sung nguồn cung năng lượng mà còn hướng tới việc hình thành năng lực công nghiệp trong nước từ chính quá trình phát triển năng lượng. Theo đó, Nghị quyết đồng thời đặt mục tiêu xây dựng các tập đoàn công nghiệp năng lượng trong nước đủ năng lực làm tổng thầu EPC các dự án lớn, phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng và nâng tỷ lệ nội địa hóa. Điều đó cho thấy, “năng lượng” chỉ là hạt nhân, còn mục tiêu rộng hơn là hình thành năng lực công nghiệp.
Theo TS Phan Minh Quốc Bình, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), Trung tâm công nghiệp năng lượng cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng tích hợp, quy mô lớn, trong đó các dự án liên kết thông qua hạ tầng dùng chung, trao đổi sản phẩm, phụ phẩm và tạo ra giá trị cộng hưởng trong toàn chuỗi. Theo ông, điểm khác biệt nằm ở khả năng hình thành “cộng sinh chuỗi giá trị”, thay vì các doanh nghiệp hoạt động độc lập.

Quảng Ngãi đã đề xuất cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất.
Đây là cách tiếp cận quan trọng để phân biệt một trung tâm công nghiệp năng lượng với một cụm dự án. Giá trị không chỉ nằm ở công suất điện hay sản lượng lọc hóa dầu, mà ở khả năng kết nối nguồn năng lượng với chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ kỹ thuật và các ngành công nghiệp mới.
Dung Quất đang là trường hợp đáng chú ý để kiểm nghiệm mô hình này.
Trên nền tảng Khu kinh tế Dung Quất, nơi đã có Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cảng biển và hệ sinh thái công nghiệp, Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia được định hướng tích hợp lọc hóa dầu, khí, LNG, điện và năng lượng tái tạo, gắn với logistics, dịch vụ hỗ trợ, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp.
Dự kiến, trung tâm có quy mô khoảng 2.000 ha đất và 2.700 ha mặt nước, hướng tới hình thành chuỗi từ nhập khẩu, tồn trữ, chế biến dầu khí đến sản xuất năng lượng và các sản phẩm công nghiệp liên quan; đồng thời nghiên cứu hydrogen xanh, ammonia xanh và công nghệ thu giữ carbon.
Quy mô đó đặt ra một câu hỏi: Dung Quất sẽ chỉ là một “siêu dự án” hay có thể trở thành một hệ sinh thái công nghiệp?
Theo TS Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng VPI, cần lấy Nhà máy Lọc dầu Dung Quất làm hạt nhân để tích hợp sâu và mở rộng chuỗi giá trị lọc - hóa dầu, kết nối với các lĩnh vực năng lượng và công nghiệp phụ trợ. Cách tiếp cận này đặt nhà máy lọc dầu ở lớp nền của một cấu hình lớn hơn, từ đó kết nối với năng lượng sạch, năng lượng xanh, công nghiệp xanh và logistics - dịch vụ.
Nếu thực hiện được, LNG có thể trở thành đầu vào cho điện và công nghiệp; năng lượng tái tạo kết nối với hydrogen, ammonia xanh; dầu khí được chế biến sâu thành hóa chất, vật liệu và sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Cảng biển và logistics cũng trở thành một phần của chuỗi sản xuất.
Khi các mắt xích được kết nối, một dự án có thể trở thành khách hàng hoặc nhà cung cấp của dự án khác, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn so với từng dự án riêng lẻ.
Bài toán thể chế vì vậy trở thành điều kiện quan trọng để biến mô hình thành hiện thực. Ngày 11/9/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã thống nhất hồ sơ đề xuất 12 nhóm cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất. Các nhóm cơ chế tập trung vào tài chính, huy động vốn, thu hút nhà đầu tư chiến lược, đất đai, quy hoạch, thủ tục đầu tư, thuế - hải quan, công nghệ, cơ chế đối với doanh nghiệp nhà nước tham gia đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến dầu khí - hóa dầu - hóa chất, hạ tầng dự trữ chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Như vậy, quy hoạch chỉ là điểm khởi đầu; để hình thành một trung tâm có sức lan tỏa, phải đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và đầu tư.
Từ hạ tầng dùng chung đến chuỗi giá trị công nghiệp
Một trong những điều kiện quyết định thành công là hạ tầng dùng chung. Một tổ hợp tích hợp LNG, lọc hóa dầu, điện, năng lượng tái tạo và công nghiệp chế biến sẽ khó phát huy lợi thế nếu từng dự án phải tự xây dựng cảng, kho chứa, đường ống, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải và logistics.

TS Phan Minh Quốc Bình, Phó Viện trưởng VPI.
Theo TS Phan Minh Quốc Bình, để các dự án thành phần phát triển đồng bộ, trước hết cần một quy hoạch tổng thể, xác định rõ không gian phát triển, hạ tầng dùng chung và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể. Nhà nước và địa phương cần bảo đảm hạ tầng kết nối đến hàng rào trung tâm, trong khi hạ tầng dùng chung bên trong cần được các doanh nghiệp phối hợp phát triển.
Nghị quyết 70-NQ/TW cũng đặt vấn đề xác định danh mục hạ tầng năng lượng dùng chung và những hạ tầng năng lượng chiến lược cần được Nhà nước kiểm soát. Đây là cơ sở để chuyển từ cách tiếp cận “mỗi dự án một hệ thống hạ tầng” sang xây dựng một nền tảng chung cho cả hệ sinh thái.
Cùng với hạ tầng, cách lựa chọn nhà đầu tư cũng cần thay đổi. Một trung tâm có nhiều dự án lớn nhưng thiếu liên kết vẫn khó tạo thành cực tăng trưởng. Vì vậy, tiêu chí thu hút đầu tư cần chuyển từ quy mô vốn sang khả năng tạo chuỗi giá trị.
Nhà đầu tư chiến lược không chỉ mang đến vốn, mà còn phải có khả năng kéo theo công nghệ, thị trường, chuỗi cung ứng và doanh nghiệp vệ tinh. Một dự án LNG sẽ có sức lan tỏa lớn hơn nếu gắn với chuỗi điện - khí - hóa chất; năng lượng tái tạo tạo giá trị cao hơn nếu kết nối với hydrogen, ammonia và các sản phẩm công nghiệp xanh; lọc hóa dầu chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi phía sau hình thành các ngành hóa chất, vật liệu, cơ khí chế tạo và dịch vụ kỹ thuật.
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Bộ Công Thương phê duyệt tại Quyết định 363/QĐ-BCT ngày 28/2/2026 đã tạo thêm cơ sở cho định hướng phát triển hệ thống năng lượng gắn với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ góc nhìn này, Trung tâm công nghiệp năng lượng cần được xem như một công cụ của chính sách công nghiệp, chứ không chỉ của chính sách năng lượng. Thước đo thành công vì vậy không nên dừng ở số MW điện, sản lượng lọc hóa dầu hay tổng vốn đầu tư. Quan trọng hơn là trung tâm tạo ra bao nhiêu doanh nghiệp mới, bao nhiêu ngành công nghiệp hỗ trợ, bao nhiêu sản phẩm có giá trị gia tăng cao và bao nhiêu năng lực công nghệ được hình thành trong nước.
Đây cũng là hướng phù hợp với Nghị quyết 70-NQ/TW khi đặt mục tiêu phát triển các tập đoàn công nghiệp năng lượng trong nước, sản xuất thiết bị năng lượng và nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Việt Nam đã có chủ trương, quy hoạch và đang từng bước hoàn thiện cơ chế. Chặng đường tiếp theo là tổ chức các dự án thành một cấu trúc thống nhất, trong đó Nhà nước kiến tạo hạ tầng và thể chế, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị, còn nhà đầu tư chiến lược mang đến công nghệ, vốn và thị trường.
Muốn Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia trở thành cực tăng trưởng, năng lượng phải tạo ra được công nghiệp phía sau năng lượng. Khi đó, những tổ hợp quy mô lớn không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, mà còn có thể trở thành những “đầu kéo” mới của công nghiệp hóa, tạo ra chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh dài hạn cho nền kinh tế.
