Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật TW: Giữ vững vị thế năng lực đào tạo đặc thù
Phát triển văn hóa, nghệ thuật đang được đặt trong một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn trao Quyết định bổ nhiệm Ban Giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, bài toán nguồn nhân lực trở thành một trong những điều kiện có tính nền tảng. Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao; chú trọng các môn nghệ thuật truyền thống, đồng thời thúc đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại, bảo đảm điều kiện giảng dạy, sáng tạo đặc thù và chăm sóc sức khỏe chuyên biệt.
Như vậy, phát triển văn hóa, nghệ thuật không thể tách rời việc duy trì và nâng cao năng lực của hệ thống đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này. Đây cũng là vấn đề cần được tính đến khi thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Theo Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026, trong quá trình sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học công lập, Đảng ủy Chính phủ được giao chỉ đạo chuyển các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý; đồng thời thực hiện sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù.
Chủ trương này đặt ra yêu cầu phải nhận diện rõ đâu là cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù và tiêu chí nào được sử dụng để bảo đảm quá trình tinh gọn không làm suy giảm năng lực đào tạo những ngành, lĩnh vực có tính đặc thù cao.
Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương là một trường hợp cần được xem xét thuộc lĩnh vực đặc thù.
Hơn 55 năm đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, giáo dục nghệ thuật
Với tiền thân là Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Họa Trung ương, ngày 26/5/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định nâng cấp trường thành Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (National University of Arts Education (NUAE)).
Với hơn 55 năm hình thành và phát triển cho thấy một quá trình xây dựng và duy trì năng lực đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục nghệ thuật. Khác với những cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo mô hình đa ngành, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hình thành và phát triển gắn với một lĩnh vực chuyên môn tương đối rõ nét, trong đó nghệ thuật vừa là đối tượng đào tạo, vừa là phương thức sáng tạo và nghiên cứu.
Sứ mệnh được xác định, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức, công nghệ trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Từ sứ mệnh này, vai trò của Nhà trường thể hiện trên ba phương diện gắn bó với nhau. Trước hết là đào tạo đội ngũ giáo viên nghệ thuật cho hệ thống giáo dục. Tiếp đó là đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa. Cùng với đào tạo, Trường còn thực hiện nghiên cứu khoa học, hoạt động sáng tạo và chuyển giao tri thức nghệ thuật.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn cùng đại diện Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương và Hội đồng Khảo thí Âm nhạc Quốc gia Australia tại chuyến công tác tại Australia vào tháng 8/2026
Trong lĩnh vực giáo dục, vai trò đào tạo giáo viên nghệ thuật càng trở nên đáng chú ý khi Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được triển khai. Giáo dục nghệ thuật được tổ chức với mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực và khả năng cảm thụ, sáng tạo của học sinh. Điều đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên vừa có nền tảng sư phạm, vừa được đào tạo bài bản về chuyên môn nghệ thuật.
Trong nghệ thuật, người học phải trải qua quá trình rèn luyện năng khiếu, kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo và năng lực sư phạm. Với âm nhạc, mỹ thuật hay các loại hình nghệ thuật khác, quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp thường gắn với luyện tập lâu dài và sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên.
Đáng chú ý, yêu cầu đối với nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật đang thay đổi nhanh chóng cùng với sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Nghệ thuật số, thiết kế, truyền thông, công nghệ biểu diễn và các hình thức sáng tạo mới đang mở rộng không gian hoạt động của nghệ sĩ, nhà thiết kế, giáo viên và những người làm công tác văn hóa. Điều này đặt các cơ sở đào tạo trước yêu cầu kép: giữ gìn những giá trị, kỹ năng nghệ thuật truyền thống đồng thời trang bị cho người học khả năng thích ứng với môi trường sáng tạo mới.
Định hướng của Nhà trường là phát triển thành cơ sở Đại học đào tạo đa ngành, trọng điểm về lĩnh vực Giáo dục văn hóa nghệ thuật. Nhà trường đã xây dựng Đề án thành lập Trường Trung học phổ thông Năng khiếu Nghệ thuật, Viện Nghiên cứu phát triển Nghệ thuật và Trung tâm Sáng tạo Nghệ thuật số.
Nếu được triển khai, mô hình này sẽ tạo thành một chuỗi tương đối liền mạch: phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu từ bậc phổ thông; đào tạo chuyên sâu ở bậc đại học, sau đại học; tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo và phát triển các sản phẩm nghệ thuật trong môi trường chuyên môn; hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và phát huy tài năng văn hóa, nghệ thuật được đặt ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Từ lịch sử cho đến định hướng phát triển chính là cơ sở để trường hợp Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương được đặt trong diện cần xem xét khi xác định các cơ sở giáo dục đại học thuộc lĩnh vực đặc thù theo Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sinh viên Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tại lễ tốt nghiệp và trao bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ và Cử nhân năm 2026.
Xứng đáng trong diện cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực đặc thù
Tính đặc thù của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương thể hiện trên nhiều yếu tố, trước hết thể hiện từ phương thức tuyển sinh.
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tổ chức tuyển sinh các ngành/chuyên ngành đào tạo đại học và sau đại học của Nhà trường theo phương thức thi tuyển năng khiếu kết hợp với xét tuyển.
Quy mô tuyển sinh các ngành nghệ thuật đạt 1.600 - 1.800 chỉ tiêu/năm (dẫn đầu khối đào tạo về nghệ thuật). 100% các ngành đào tạo đại học và sau đại học đều xét tuyển/thi tuyển qua các môn năng khiếu hoặc tuyển thẳng các thí sinh đạt giải thưởng nghệ thuật quốc gia, quốc tế.
Tính đến tháng 8/2026, tổng quy mô đào tạo là 7.154 người học (gồm đại học, cao học và nghiên cứu sinh). Người học thuộc lĩnh vực Nghệ thuật và Sư phạm Nghệ thuật của Trường chiếm 82% quy mô toàn trường (đạt điều kiện >70% quy định đối với "trường đặc thù" theo Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT).
Mặc dù có 2 ngành Sư phạm Nghệ thuật (Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật), thực tế cách thức tổ chức dạy học của Trường hoàn toàn mang tính chất đặc thù nghệ thuật, đó là: Lớp lý thuyết chuyên ngành giới hạn 15 sinh viên/nhóm tín chỉ; Các môn Thanh nhạc, Nhạc cụ, Piano, Chỉ huy, Bố cục, Điêu khắc... áp dụng mô hình giảng dạy cá thể 1 thầy - 1 trò (1:1) hoặc theo nhóm nhỏ, ...
Những đặc điểm này cho thấy đào tạo nghệ thuật khó áp dụng hoàn toàn cách tiếp cận tăng quy mô người học để tối ưu chi phí như ở nhiều ngành đào tạo khác. Với một giờ học Thanh nhạc, Piano hay nhạc cụ, chất lượng còn phụ thuộc vào thời lượng người học được trực tiếp thực hành, mức độ tương tác với giảng viên và khả năng nhận được những chỉnh sửa cụ thể trong từng kỹ năng.
Tương tự, ở các ngành Sư phạm mỹ thuật, Thiết kế đồ họa, Thiết kế thời trang hay Hội họa, không gian thực hành, vật liệu và thiết bị chuyên dụng là một phần của quá trình đào tạo, chứ không đơn thuần chỉ là điều kiện hỗ trợ.
Tính đặc thù của một cơ sở đào tạo nghệ thuật còn nằm ở đội ngũ giảng viên. Khác với nhiều ngành học mà nguồn nhân lực giảng dạy có thể được bổ sung tương đối rộng từ nhiều lĩnh vực, đào tạo nghệ thuật đòi hỏi đội ngũ vừa có trình độ học thuật, vừa có năng lực thực hành và hoạt động nghề nghiệp chuyên sâu, giảng viên nghệ thuật không chỉ là Nhà giáo, Nhà sư phạm mà còn là những Hoạ sĩ hay Nghệ sỹ biểu diễn.
Tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, 100% giảng viên nghệ thuật có trình độ sau đại học. Trong tổng số 246 giảng viên, có 49 người có trình độ tiến sĩ (chiếm 19,91%), trong đó có nhiều giảng viên có trình độ Giáo sư và Phó Giáo sư.
Tỷ lệ này đáp ứng và vượt các ngưỡng về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ được áp dụng đối với cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực đặc thù theo quy định hiện hành. Nhiều giảng viên đang tiếp tục làm nghiên cứu sinh, tạo dư địa nâng tỷ lệ tiến sĩ trong những năm tới.
Đáng chú ý, năng lực của đội ngũ giảng viên Nhà trường không chỉ thể hiện năng lực chuyên môn sư phạm mà còn là những chuyên gia trong lĩnh vực nghệ thuật: Có 30 giảng viên là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam/Hội Mỹ thuật Hà Nội và 24 giảng viên là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
Đặc biệt, hiện nay Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đang là thành viên chủ lực trong Khối các Trường đào tạo Văn hoá - Nghệ thuật: Hiệu trưởng nhà trường hiện là Chủ tịch Câu lạc bộ Khối các trường đào tạo Văn hóa - Nghệ thuật thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, đại diện cho 30 cơ sở đào tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật trên toàn quốc.
Trường còn là cơ sở hàng đầu đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao - các nhà quản lý, giáo viên các Trường, các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật trên cả nước.
Nhà trường cũng là một trong những cơ sở giáo dục đại học có tổ chức Hội đồng Giáo sư cơ sở để xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư thuộc lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật. Đây là một chỉ dấu về năng lực chuyên môn và học thuật của một cơ sở đào tạo chuyên sâu.
Hoạt động nghiên cứu khoa học cũng cho thấy năng lực chuyên môn của đội ngũ. Theo báo cáo năm 2025, tỷ lệ công bố khoa học trên giảng viên của trường đạt 0,81; có 165 bài báo khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm và 7 sách chuyên khảo được xuất bản.
Không những vậy, Trường cũng đã xây dựng cơ chế quy đổi một số sản phẩm sáng tạo nghệ thuật như giải thưởng âm nhạc, mỹ thuật, tác phẩm triển lãm, chương trình biểu diễn và dự án nghệ thuật thành khối lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên.
Cách tiếp cận này xuất phát từ đặc điểm của nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật, nơi sản phẩm học thuật có thể được thể hiện qua tác phẩm, triển lãm, biểu diễn hoặc dự án sáng tạo thay vì chỉ qua bài báo khoa học theo cách truyền thống.
Không những vậy, Nhà trường còn mở rộng hợp tác với khoảng 15-20 trường đại học nghệ thuật trên thế giới và kết nối với các tổ chức quốc tế nhằm tăng cường trao đổi học thuật, đào tạo và hoạt động sáng tạo.
Những hoạt động này cho thấy định hướng phát triển của Trường không chỉ dừng ở đào tạo giáo viên nghệ thuật mà đang mở rộng sang nghiên cứu, sáng tạo và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Chưa kể, theo Công văn số 4784/BGDĐT-GDĐH ngày 27/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đạt 25/26 tiêu chí Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
Trong quá trình đánh giá, một số tiêu chí của Trường đã được xem xét phù hợp với đặc điểm của cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực đặc thù, trong đó có yêu cầu về tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ từ 10% trở lên; không áp dụng tiêu chí về doanh thu khoa học và công nghệ và công bố trên các cơ sở dữ liệu WoS/Scopus. Trước đó, Trường đã đạt chứng nhận kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục ở chu kỳ 1, chu kỳ 2 và đã đạt kiểm định nhiều chương trình đào tạo đại học và sau đại học.

Giảng đường đa năng diện tích 900 m², với tổng diện tích sàn gần 7.000 m² được đưa vào sử dụng năm 2026.
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đã đầu tư hệ thống phòng học cá nhân cách âm, phòng học nhóm nhỏ, xưởng điêu khắc, phòng sơn mài, xưởng may thời trang, phòng hòa âm phối khí, phòng thu âm, sân khấu biểu diễn,...
Năm 2026, Trường đưa vào sử dụng giảng đường đa năng diện tích 900 m², với tổng diện tích sàn gần 7.000 m². Đây là những hạ tầng gắn trực tiếp với hoạt động đào tạo, thực hành và sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, bài toán sắp xếp một cơ sở đào tạo nghệ thuật vào một trường đa ngành cũng cần tính đến khả năng duy trì hệ thống không gian, thiết bị và phương thức tổ chức đào tạo này sau sáp nhập.
Bởi vậy, khi đánh giá hiệu quả của một cơ sở đào tạo nghệ thuật, cần căn cứ vào việc cơ sở đó có duy trì được môi trường đào tạo đủ điều kiện để người học rèn luyện năng lực nghề nghiệp hay không. Điều này cũng lý giải vì sao hệ thống cơ sở vật chất của một trường nghệ thuật có những yêu cầu khác biệt so với các cơ sở giáo dục đại học khác.
Về định hướng phát triển, cuối tháng 7/2026, Trường đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng thêm 10.282 m² đất; đầu tháng 8/2026 đang hoàn thiện thủ tục xin cấp 29,3 ha đất tại huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội để xây dựng cơ sở mới, hướng tới quy mô khoảng 13.000 người học vào năm 2030. Nếu được triển khai theo kế hoạch, đây sẽ là điều kiện để Trường tiếp tục mở rộng không gian đào tạo, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Như vậy, khi xem xét tính đặc thù của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương cần nhìn đồng thời vào nhiều yếu tố: hình thức tổ chức tuyển sinh, các lĩnh vực đào tạo chuyên sâu, phương thức tổ chức giảng dạy, đặc điểm đội ngũ, phương thức đánh giá hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và yêu cầu về cơ sở vật chất. Các yếu tố này liên kết với nhau thành một mô hình đào tạo tương đối riêng biệt, khó có thể đánh giá chỉ bằng những tiêu chí áp dụng chung cho các trường đại học đa ngành.
Cần nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật và xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, việc xác định rõ những cơ sở đào tạo có năng lực chuyên sâu trong lĩnh vực này vì thế có ý nghĩa rộng hơn câu chuyện tổ chức của một trường đại học.
Hiện nay Trường đào tạo 21 mã ngành/chuyên ngành về Nghệ thuật và Sư phạm Nghệ thuật (chiếm 85,7% tổng số ngành đào tạo) ở đầy đủ các bậc đào tạo từ Trung cấp, Đại học đến Thạc sĩ, Tiến sĩ, trong đó: Trình độ Tiến sĩ (Tiến sĩ Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, Tiến sĩ Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật, Tiến sỹ Văn hóa học); Trình độ Thạc sĩ (Thạc sĩ Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc, Thạc sĩ Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật, Thạc sĩ Mỹ thuật ứng dụng, Thạc sỹ Quản lý văn hóa); Trình độ Đại học (Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc Mầm non, chuyên ngành Sư phạm Mỹ thuật Mầm non, Thiết kế đồ họa, Thiết kế thời trang, Hội họa, Diễn viên Kịch - Điện ảnh, Quản lý văn hóa, Công tác xã hội, Du lịch, Thanh nhạc, Piano, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây với 04 chuyên ngành: Organ, Accordion, Guitar, Trống; Trình độ Trung cấp (Trung cấp Piano).
