Trường học có thể làm gì để giảm hành vi bạo lực hướng vào giáo viên?
Những vụ việc học sinh có hành vi bạo lực với giáo viên xuất hiện trên mạng xã hội thời gian qua thường dẫn đến những nhận định bi quan về sự mai một của truyền thống 'tôn sư trọng đạo'. Tuy nhiên, theo TS Đặng Hoàng Ngân - chuyên gia tâm lý học, bạo lực nhắm vào giáo viên không nên chỉ được nhìn nhận ở góc độ các vụ việc đơn lẻ hay đặt trong sự so sánh cảm tính với quá khứ, mà cần được tiếp cận như một vấn đề cần có hệ thống hỗ trợ bài bản.
Bạo lực nhắm vào giáo viên: Cần nhìn nhận ở cấp độ hệ thống
Theo TS Đặng Hoàng Ngân, tại Việt Nam, hiện chưa có các nghiên cứu định lượng quy mô lớn về những hình thức bạo lực mà giáo viên phải đối mặt. Từ dữ liệu các khảo sát của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) - Khảo sát toàn quốc tại Hoa Kỳ năm 2011 của McMahon và cộng sự cho thấy, khoảng 50% giáo viên từng trải qua ít nhất một hình thức bạo hành trong năm học, bao gồm quấy rối, xâm phạm tài sản và bạo lực thể chất.
Đến năm 2022, một báo cáo kỹ thuật khác của nhóm nghiên cứu này ghi nhận 33% giáo viên từng chịu bạo lực lời nói hoặc đe dọa từ học sinh, 29% từ phụ huynh, 18% từ ban quản lý và 14% từ đồng nghiệp; riêng tỷ lệ giáo viên bị học sinh bạo lực thể chất chiếm khoảng 14%.

TS Đặng Hoàng Ngân: "Không phải cứ tăng cường kỷ luật hay siết chặt an ninh là có thể giảm bạo lực học đường".
Các dữ liệu này chỉ ra, học sinh là tác nhân phổ biến nhất nhưng không phải duy nhất. Đối với các hành vi bạo lực do học sinh thực hiện, ngoài yếu tố lệch chuẩn hành vi và bất ổn tâm lý cá nhân, nghiên cứu năm 2013 của Espelage và cộng sự chỉ ra rằng, nguyên nhân còn gắn liền với môi trường tổ chức và cách thức triển khai hoạt động giáo dục.
Cụ thể, hành vi hung hăng của học sinh thường dễ bùng phát trong những lớp học thiếu kế hoạch quản lý hành vi rõ ràng, hoặc khi giáo viên phản ứng cảm xúc thái quá, làm học sinh "mất mặt" công khai và lạm dụng sự đe dọa, trừng phạt.
Ngược lại, năng lực quản lý lớp học tốt, sự tôn trọng và tin tưởng trong mối quan hệ thầy - trò, cùng một chính sách kỷ luật nhà trường nhất quán, mà ở đó học sinh hiểu và tự nguyện chấp nhận quy tắc thay vì bị áp đặt, sẽ giúp giảm thiểu đáng kể nguy cơ bạo lực.
Hạn chế của kỷ luật loại trừ
Khi Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (có hiệu lực từ ngày 31/10/2025) bãi bỏ hình thức đình chỉ học tập và giới hạn mức kỷ luật cao nhất ở việc viết bản tự kiểm điểm, nhiều ý kiến lo ngại rằng nhà trường sẽ thiếu công cụ răn đe.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học giáo dục, việc loại bỏ hình thức đuổi học hay đình chỉ học tập lại tương đồng với các kết quả nghiên cứu thực chứng quốc tế. Dẫn nghiên cứu năm 2024 của Perry và cộng sự về bốn nhóm biện pháp ứng phó bạo lực học đường (gồm: kỷ luật mang tính loại trừ, siết chặt an ninh trường học, biện pháp phòng ngừa và can thiệp khủng hoảng), TS Đặng Hoàng Ngân chỉ rõ những nghịch lý trong cách xử lý truyền thống.
Theo nghiên cứu này, các biện pháp kỷ luật mang tính loại trừ như đuổi ra khỏi lớp, đình chỉ hoặc buộc thôi học... chưa chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong việc giảm bạo lực. Thậm chí, cách làm này còn có thể gia tăng sự căng thẳng, thái độ thù địch, ảnh hưởng tiêu cực đến việc học và làm tăng nguy cơ phạm pháp ở tuổi vị thành niên.
Tương tự, việc siết chặt an ninh bằng camera, kiểm tra ngẫu nhiên hay tăng cường giám sát cũng chưa có bằng chứng rõ ràng về khả năng bảo vệ giáo viên, mà đôi khi còn tạo ra bầu không khí nghi kỵ, tiêu cực trong trường học.
Trong khi đó, nhóm biện pháp phòng ngừa thông qua giáo dục kỹ năng xã hội - cảm xúc, tham vấn tâm lý, nâng cao kỹ năng quản lý lớp học của giáo viên và cải thiện môi trường học đường lại cho thấy tiềm năng giảm bạo lực bền vững, với điều kiện phải được triển khai nhất quán và thực chất.
Dù vậy, TS Đặng Hoàng Ngân cũng lưu ý rằng, ngay cả khi xây dựng được môi trường học đường tích cực, nhà trường vẫn không thể xóa bỏ hoàn toàn bạo lực. Những yếu tố vượt ngoài tầm kiểm soát của cơ sở giáo dục như năng lực kiểm soát cảm xúc kém của cá nhân người học hay các bất ổn từ môi trường xã hội vẫn có thể dẫn đến các vụ việc đáng tiếc.
Nhận diện rõ giới hạn này giúp xã hội không quy kết mọi trách nhiệm cho nhà trường, đồng thời đòi hỏi một cơ chế xử lý về mặt pháp lý khi hành vi bạo lực vượt qua ngưỡng giáo dục thông thường.
Góc nhìn pháp lý để bảo đảm an toàn học đường
Khi các vụ việc nghiêm trọng vẫn có nguy cơ xảy ra và mức kỷ luật cao nhất trong trường học chỉ là viết bản tự kiểm điểm, Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Trưởng Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhấn mạnh nguyên tắc: Không đánh đồng kỷ luật học đường với trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự.

Luật sư Nguyễn Văn Đồng cho rằng, việc giáo dục pháp luật trong nhà trường cần được thực hiện bằng các tình huống thực tế thay vì chỉ đọc nội quy hay hù dọa cảm tính.
Theo Luật sư Nguyễn Văn Đồng, việc Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT bỏ hình thức đình chỉ học tập không đồng nghĩa với việc học sinh được miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Bản tự kiểm điểm chỉ là biện pháp giáo dục nội bộ, hoàn toàn không phải cơ chế thay thế pháp luật. Do đó, nếu chỉ yêu cầu viết bản kiểm điểm mà thiếu quy trình giám sát và xử lý tương xứng theo pháp luật, hiệu quả phòng ngừa sẽ rất hạn chế.
Để bảo vệ thực chất an toàn học đường và bổ khuyết cho các giải pháp tâm lý - sư phạm, Luật sư Nguyễn Văn Đồng cho rằng, nhà trường cần thiết lập quy trình bảo vệ người bị hại ngay khi phát sinh sự việc. Cơ sở giáo dục phải ưu tiên ngăn chặn hành vi bạo lực, sơ cứu hoặc đưa nạn nhân đi thăm khám, đồng thời bảo toàn chứng cứ như dữ liệu camera, tin nhắn, lời khai và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền.
Nhà trường tuyệt đối không được gây áp lực buộc giáo viên phải hòa giải, rút phản ánh, hay lấy lý do học sinh còn nhỏ, đã xin lỗi và bồi thường để tự ý khép lại các vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
Bên cạnh đó, việc giáo dục pháp luật trong nhà trường cần được thực hiện bằng các tình huống thực tế thay vì chỉ đọc nội quy hay hù dọa cảm tính. Học sinh cần hiểu rõ ranh giới giữa vi phạm nội quy với các chế tài hành chính, nghĩa vụ bồi thường dân sự và trách nhiệm hình sự đối với hành vi hành hung, cũng như các hành vi đồng phạm, cổ vũ, quay phim và phát tán hình ảnh xâm hại danh dự người khác.
Đối với những học sinh có nguy cơ tái phạm, sau bước xử lý vi phạm, nhà trường cần kết hợp đánh giá nguyên nhân, tư vấn tâm lý với kế hoạch giám sát chặt chẽ, đồng thời phối hợp cùng cơ quan chức năng nếu phát sinh nguy cơ mất an toàn. Hiệu quả của toàn bộ hệ thống này phải được gắn liền với trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ sở giáo dục trong việc tiếp nhận phản ánh, bảo vệ giáo viên và minh bạch thông tin.
Các chuyên gia nhận định, giáo dục nhân văn và tích cực không có nghĩa là dung túng cho cái sai, và việc bảo vệ sự an toàn của người dạy hoàn toàn không đối lập với mục tiêu cảm hóa, giúp người học sửa chữa sai lầm.
