Truyền tải điện dưới biển: Hạ tầng đi trước để khai mở điện gió ngoài khơi

Việt Nam có gần 600 GW tiềm năng điện gió ngoài khơi, nhưng nguồn tài nguyên này chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi hạ tầng truyền tải điện dưới biển được quy hoạch, đầu tư đồng bộ và đi trước một bước.

Việt Nam sở hữu tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi thuộc nhóm lớn trong khu vực. Nhưng tài nguyên gió chỉ trở thành nguồn lực phát triển khi dòng điện được đưa về bờ an toàn, ổn định và với chi phí hợp lý. Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, còn Quy hoạch điện VIII điều chỉnh mở ra không gian phát triển điện gió ngoài khơi quy mô lớn, truyền tải điện dưới biển phải được nhìn nhận là hạ tầng chiến lược quốc gia, không phải hạng mục phụ trợ đi sau từng dự án.

Khai mở tiềm năng, trước hết phải mở đường cho dòng điện

Chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang bước sang giai đoạn mới, trọng tâm là tái cấu trúc đồng bộ nguồn điện, lưới điện, lưu trữ, thị trường và năng lực công nghiệp. Theo Báo cáo điện gió ngoài khơi toàn cầu 2026 của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC), công suất điện gió ngoài khơi thế giới có thể đạt 420 GW vào cuối năm 2035, tăng hơn bốn lần so với cuối năm 2025. Dù thị trường còn đối mặt với lãi suất cao, áp lực chuỗi cung ứng và thủ tục cấp phép phức tạp, xu hướng dài hạn vẫn rõ ràng: các nền kinh tế có nhu cầu điện lớn đang coi điện gió ngoài khơi là một trụ cột của an ninh năng lượng và tăng trưởng phát thải thấp.

Nhà máy điện gió Bạc Liêu phase 3, công suất 141MW. Ảnh: TH

Nhà máy điện gió Bạc Liêu phase 3, công suất 141MW. Ảnh: TH

Đối với Việt Nam, yêu cầu ấy càng cấp thiết, hệ thống điện phải được mở rộng đủ nhanh và đủ tin cậy để đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, các trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa và những ngành sản xuất xanh mới. Đồng thời, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Bài toán vì thế không phải lựa chọn giữa tăng trưởng và chuyển dịch năng lượng, mà là xây dựng một hệ thống năng lượng mới đủ sức nâng đỡ tăng trưởng ở trình độ cao hơn.

Theo Lộ trình điện gió ngoài khơi cho Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (World Bank)/ESMAP công bố, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam xấp xỉ 599 GW, gồm 261 GW điện gió móng cố định và 338 GW điện gió nổi. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025, xác định tiềm năng kỹ thuật khoảng 600.000 MW; tổng công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu điện trong nước đạt khoảng 6.000-17.032 MW, dự kiến vận hành giai đoạn 2030 - 2035, và định hướng đạt 113.503-139.097 MW vào năm 2050.

Những con số trên cho thấy Việt Nam sở hữu dư địa phát triển điện gió ngoài khơi rất lớn, nhưng cần được nhìn nhận một cách thực chất. Tiềm năng kỹ thuật không đồng nghĩa với công suất có thể triển khai trên thực tế. Để biến tiềm năng thành điện năng thương mại là cả một chuỗi giá trị liên hoàn, từ quy hoạch không gian biển, khảo sát, đánh giá môi trường - xã hội, thiết kế móng và tua-bin, phát triển cảng và đội tàu chuyên dụng, đến xây dựng trạm điện ngoài khơi, cáp ngầm, điểm cập bờ, trạm chuyển đổi, lưới truyền tải và điều độ hệ thống. Chỉ cần một mắt xích chậm hoặc thiếu đồng bộ, toàn bộ dự án có thể bị đình trệ.

Trong toàn bộ chuỗi phát triển điện gió ngoài khơi, lưới truyền tải điện dưới biển là mắt xích quyết định. Không có "chiếc cầu" này, hàng trăm GW tiềm năng gió ngoài khơi vẫn chỉ dừng lại trên bản đồ. Ngược lại, khi hạ tầng truyền tải được quy hoạch đồng bộ và đầu tư đúng thời điểm, điện gió ngoài khơi mới có thể phát huy vai trò là nguồn điện quy mô lớn, ổn định, bổ sung hiệu quả cho hệ thống điện quốc gia. Đồng thời, đây cũng là động lực hình thành chuỗi công nghiệp mới, từ sản xuất cáp điện, cơ khí biển, cảng biển, đóng tàu đến tự động hóa, dữ liệu và các dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.

Truyền tải điện dưới biển không phải chi phí phụ trợ của điện gió ngoài khơi; đó là hạ tầng chiến lược quyết định quy mô, tiến độ, độ tin cậy và giá trị nội địa của cả ngành.

Không thể quy hoạch nguồn trước, chờ lưới theo sau

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một quy luật nhất quán: ở đâu hạ tầng lưới điện ngoài khơi phát triển chậm hơn nguồn điện, ở đó dự án bị kéo dài tiến độ, chi phí vốn gia tăng và cuối cùng người tiêu dùng phải gánh phần chi phí này thông qua giá điện. Ngược lại, khi Nhà nước và đơn vị vận hành hệ thống chủ động quy hoạch kiến trúc lưới, hành lang cáp, điểm cập bờ và lộ trình đầu tư lưới điện trên bờ, thị trường sẽ có nền tảng minh bạch để thu hút đầu tư, thúc đẩy cạnh tranh và giảm chi phí phát triển dự án.

Việt Nam vì vậy không nên đi theo mô hình mỗi dự án tự thiết kế một tuyến cáp, một điểm cập bờ và một cấu hình đấu nối riêng. Cách tiếp cận này có thể phù hợp trong giai đoạn thị trường mới hình thành, nhưng sẽ bộc lộ nhiều hạn chế khi quy mô điện gió ngoài khơi tăng lên hàng chục GW. Hệ quả là hệ thống truyền tải bị phân mảnh, quỹ không gian ven biển bị sử dụng kém hiệu quả, khó chia sẻ hạ tầng và dự phòng, đồng thời làm gia tăng số lượng công trình trên bờ. Bên cạnh đó, việc phát triển nhiều tuyến cáp riêng lẻ còn làm phức tạp quy hoạch không gian biển, gia tăng nguy cơ chồng lấn với cáp viễn thông, đường ống dầu khí, luồng hàng hải và các khu vực khai thác thủy sản.

Hạ tầng truyền tải điện dưới biển có vòng đời hàng chục năm, dài hơn nhiều so với chu kỳ đầu tư của một dự án điện gió ngoài khơi. Vì vậy, mọi quyết định đầu tư hôm nay phải tính đến khả năng mở rộng trong tương lai. Một tuyến truyền tải điểm - điểm ban đầu cần được thiết kế để có thể nâng cấp, kết nối vào các trung tâm thu gom công suất, tích hợp với hệ thống HVDC đa đầu cuối hoặc phát triển thành lưới điện một chiều cấu trúc mạch vòng khi quy mô nguồn tăng lên.

Khả năng mở rộng đó không thể bổ sung sau này mà phải được chuẩn bị ngay từ đầu thông qua việc thống nhất cấp điện áp, tiêu chuẩn giao diện điều khiển và bảo vệ, bố trí không gian cho thiết bị mở rộng, quy hoạch hành lang tuyến và xây dựng cơ chế quản lý, chia sẻ dữ liệu.

Điện gió ngoài khơi chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nguồn điện và hạ tầng được quy hoạch như một chỉnh thể thống nhất. Điều đó đòi hỏi quy hoạch đồng thời nguồn điện, lưới truyền tải, không gian biển, hạ tầng cảng và phụ tải. Điểm đấu nối trên bờ phải được lựa chọn cùng với phương án tăng cường lưới truyền tải, thay vì chỉ tận dụng những trạm còn khả năng tiếp nhận. Việc dồn hàng gigawatt công suất vào một nút lưới yếu không chỉ làm gia tăng nguy cơ quá tải, dao động điện áp và yêu cầu dự phòng, mà còn dẫn tới cắt giảm công suất và làm giảm hiệu quả đầu tư. Vì thế, lưới điện ngoài khơi cần được nhìn nhận như một bộ phận của kiến trúc truyền tải điện quốc gia, chứ không phải tập hợp các tuyến đấu nối riêng lẻ của từng chủ đầu tư.

Công nghệ nào cho lưới điện gió ngoài khơi Việt Nam?

Về mặt công nghệ, truyền tải điện gió ngoài khơi hiện chủ yếu sử dụng hai giải pháp HVAC (truyền tải điện xoay chiều cao áp) hoặc HVDC (truyền tải điện một chiều cao áp). Theo đó, HVAC phù hợp với các dự án có khoảng cách từ ngoài khơi vào bờ ngắn đến trung bình, quy mô công suất vừa và hệ thống điện trên bờ đủ khả năng tiếp nhận. Tuy nhiên, khi khoảng cách truyền tải và quy mô cụm dự án tăng lên, cáp xoay chiều sẽ phát sinh dòng điện dung lớn, đòi hỏi bù công suất phản kháng nhiều hơn, làm gia tăng tổn thất và chi phí vận hành. Trong trường hợp này, giải pháp HVDC trở thành giải pháp hiệu quả hơn nhờ khả năng truyền tải công suất lớn trên khoảng cách xa với tổn thất thấp và dễ kiểm soát dòng công suất.

Không có một ngưỡng cố định áp dụng cho mọi dự án. Khoảng cách 80–150 km chỉ nên được xem là dải tham chiếu để sàng lọc sơ bộ giữa HVAC và HVDC. Lựa chọn cuối cùng cần dựa trên tổng chi phí vòng đời, bao gồm số lượng mạch cáp, công suất truyền tải, tổn thất điện năng, quy mô trạm ngoài khơi, độ tin cậy, khả năng sửa chữa, tiến độ chế tạo, điều kiện địa chất – hải dương và dư địa mở rộng trong tương lai.

Một phương án có chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn chưa chắc đã tối ưu nếu kéo theo tổn thất lớn, hạn chế khả năng truyền tải hoặc tạo ra một tài sản khó tích hợp vào kiến trúc lưới điện về sau.

Với các dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn và xa bờ, VSC-HVDC/MMC đang trở thành công nghệ truyền tải chủ đạo. Giải pháp này cho phép điều khiển linh hoạt công suất tác dụng và phản kháng, vận hành hiệu quả trên lưới điện yếu, hỗ trợ khôi phục hệ thống khi cần và tạo nền tảng cho các liên kết HVDC nhiều đầu cuối. Xa hơn, lưới điện một chiều ngoài khơi có thể kết nối nhiều cụm điện gió, nhiều điểm tiếp nhận điện trên bờ, các trung tâm sản xuất hydro xanh và các liên kết điện khu vực, hình thành mạng lưới năng lượng ngoài khơi tích hợp.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở bộ biến đổi mà còn ở cáp điện lực biển, tài sản có rủi ro tập trung cao nhất của hệ thống. Một sự cố cáp có thể làm gián đoạn truyền tải hàng trăm đến hàng nghìn MW trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, do quá trình định vị hư hỏng, huy động tàu chuyên dụng, chuẩn bị vật tư thay thế và phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Vì vậy, phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ là đầu tư cáp mà phải quản trị toàn bộ hệ thống cáp, từ khảo sát, thiết kế, bảo vệ, giám sát, dữ liệu hoàn công, dự phòng vật tư đến năng lực sửa chữa khẩn cấp và đội tàu chuyên dụng.

Trong quản trị tài sản lưới điện ngoài khơi, công nghệ số đang trở thành lớp năng lực không thể thiếu. Cảm biến sợi quang phân bố (DTS/DAS) cho phép giám sát liên tục nhiệt độ và rung động dọc tuyến cáp; trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường; còn bản sao số (Digital Twin) kết hợp mô hình vật lý với dữ liệu vận hành để dự báo suy giảm thiết bị, tối ưu khả năng tải động và lập kế hoạch bảo trì theo trạng thái. Tuy nhiên, số hóa chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu được chuẩn hóa, các mô hình được kiểm chứng và hệ thống điều khiển đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về an ninh mạng. Nói cách khác, một lưới điện ngoài khơi hiện đại phải được thiết kế đồng bộ trên ba lớp: hạ tầng điện lực, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng an ninh mạng.

Bài học quốc tế: Nhà nước định hình kiến trúc, thị trường tổ chức triển khai

Kinh nghiệm châu Âu cho thấy xu hướng phát triển lưới điện ngoài khơi đang dịch chuyển từ mô hình "mỗi dự án một tuyến cáp" sang quy hoạch tích hợp ở quy mô vùng. Khu vực Biển Bắc đã phát triển các liên kết lai và định hướng xây dựng lưới HVDC đa đầu cuối. Đức và Hà Lan giao vai trò chủ đạo cho các đơn vị truyền tải trong quy hoạch và đầu tư hạ tầng kết nối ngoài khơi; Vương quốc Anh dù vẫn áp dụng cơ chế cạnh tranh nhưng ngày càng ưu tiên thiết kế phối hợp để giảm điểm cập bờ và tối ưu chi phí; Đan Mạch phát triển mô hình đảo năng lượng, kết hợp thu gom điện gió ngoài khơi với liên kết truyền tải xuyên biên giới, tạo nền tảng cho một thị trường điện khu vực tích hợp.

Trong khi đó, Trung Quốc phát triển nhanh thông qua chuỗi dự án có quy mô tăng dần, đồng thời xây dựng năng lực nội địa về thiết bị HVDC, cáp, bảo vệ và thử nghiệm. Nhật Bản và Hàn Quốc coi dự án thí điểm, cảng, đóng tàu, cơ khí biển và liên kết doanh nghiệp - viện - trường là nền tảng hình thành chuỗi cung ứng. Hoa Kỳ cho thấy một bài học khác: tiềm năng tài nguyên lớn chưa đủ; sự thiếu ổn định về cấp phép, hợp đồng, lãi suất và phân bổ rủi ro có thể khiến dự án bị trì hoãn hoặc phải tái đàm phán.

Từ các kinh nghiệm đó, có thể rút ra năm bài học. Thứ nhất, phải có kiến trúc lưới điện ngoài khơi cấp quốc gia và một đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng. Thứ hai, danh mục dự án phải đủ ổn định và quy mô thị trường phải đủ lớn để doanh nghiệp đầu tư nhà máy, cảng và nhân lực. Thứ ba, tiêu chuẩn kỹ thuật phải dựa trên yêu cầu chức năng, bảo đảm khả năng tương tác giữa nhiều nhà cung cấp, tránh phụ thuộc vào một hệ sinh thái đóng. Thứ tư, năng lực thử nghiệm, chứng nhận và sửa chữa quan trọng không kém năng lực chế tạo. Thứ năm, cơ chế đầu tư phải phân bổ minh bạch rủi ro chậm lưới, chậm nguồn, thay đổi pháp luật, tỷ giá, cắt giảm công suất và sự kiện bất khả kháng.

Điểm cốt lõi là không sao chép nguyên mẫu của bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam có điều kiện bão, địa chất đáy biển, cấu trúc lưới, năng lực tài chính và thể chế riêng. Điều cần học không phải một cấu hình thiết bị cụ thể, mà là cách các nước xây dựng năng lực hệ thống: khảo sát có chuẩn, thiết kế có dữ liệu, đầu tư có lộ trình, thử nghiệm độc lập, vận hành có trách nhiệm và cập nhật chính sách theo bằng chứng.

Nghị quyết 57 mở đường cho đổi mới trong ngành năng lượng

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 (Nghị quyết 57) của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tinh thần đó đặc biệt phù hợp với điện gió ngoài khơi và truyền tải điện dưới biển - lĩnh vực hội tụ điện công suất, điện tử công suất, vật liệu, cơ khí biển, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và khoa học dữ liệu. Nếu chỉ tiếp cận điện gió ngoài khơi như một danh mục thiết bị nhập khẩu theo hình thức chìa khóa trao tay, Việt Nam có thể có thêm công suất nhưng bỏ lỡ cơ hội xây dựng năng lực công nghệ. Ngược lại, nếu coi mỗi dự án là một nền tảng học tập có mục tiêu, chúng ta có thể từng bước làm chủ thiết kế hệ thống, mô hình mô phỏng, tích hợp, giám sát tài sản, vận hành và một phần chuỗi cung ứng có giá trị gia tăng cao.

Để hiện thực hóa Nghị quyết 57 trong lĩnh vực này, cần thiết lập một chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về lưới điện ngoài khơi và HVDC. Chương trình phải gắn nhiệm vụ nghiên cứu với dự án thực, có đơn vị tiếp nhận kết quả và tiêu chí đánh giá theo mức độ trưởng thành công nghệ. Những hạng mục ưu tiên gồm: cơ sở dữ liệu không gian biển và hành lang cáp dùng chung; mô hình hệ thống điện và mô phỏng điện từ quá độ; điều khiển tạo lưới (grid-forming) cho hệ thống truyền tải điện một chiều cao áp sử dụng bộ biến đổi nguồn áp (VSC-HVDC); bảo vệ lưới điện một chiều; giám sát cáp bằng sợi quang; bản sao số; dự báo sự cố bằng AI; an ninh mạng công nghiệp; công nghệ cáp động cho điện gió nổi; và phương án phục hồi sau sự cố quy mô lớn.

Cùng với đầu tư hạ tầng truyền tải, Việt Nam cần sớm hình thành hạ tầng thử nghiệm quốc gia cho lưới điện ngoài khơi, bao gồm hệ thống mô phỏng phần cứng trong vòng lặp và mô phỏng số thời gian thực (HIL/RTDS), nền tảng kiểm chứng mô hình của nhà chế tạo, phòng thử nghiệm cáp và phụ kiện, hệ thống mô phỏng điều độ và trung tâm đào tạo vận hành. Đây sẽ là nơi cơ quan quản lý, đơn vị truyền tải, đơn vị vận hành hệ thống và thị trường điện, doanh nghiệp chế tạo, chủ đầu tư và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cùng kiểm chứng giải pháp trước khi triển khai ngoài thực địa. Đầu tư cho thử nghiệm độc lập tuy không nhỏ nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục một sai sót thiết kế hoặc sự cố cáp tại các dự án điện gió ngoài khơi có tổng mức đầu tư hàng tỷ USD.

Các đại biểu thăm quan Trung tâm Đào tạo xuất sắc về điện gió, Trường Đại học Điện lực. Ảnh: TH

Các đại biểu thăm quan Trung tâm Đào tạo xuất sắc về điện gió, Trường Đại học Điện lực. Ảnh: TH

Vai trò của các trường đại học không chỉ là đào tạo kỹ sư, theo đó các cơ sở đào tạo điện lực cần tham gia xây dựng tiêu chuẩn, xác thực mô hình, nghiên cứu bản sao số, phát triển thuật toán điều khiển - bảo vệ và đào tạo nhân lực theo mô hình phòng điều khiển số. Trường Đại học Điện lực có thể phối hợp với các đơn vị trong ngành xây dựng trung tâm xuất sắc về lưới điện ngoài khơi và HVDC. Trung tâm cần vận hành theo cơ chế mở, kết nối doanh nghiệp và đối tác quốc tế; nhiệm vụ nghiên cứu, chương trình đào tạo và tiêu chí đánh giá phải xuất phát từ những bài toán cụ thể của hệ thống điện Việt Nam.

Lộ trình đến năm 2050: Bốn bước, một nguyên tắc xuyên suốt

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã mở một không gian phát triển rất rộng, tuy nhiên, để chuyển định hướng quy hoạch thành công trình vận hành, Việt Nam cần một lộ trình theo điều kiện sẵn sàng, tránh chạy theo mốc công suất bằng mọi giá. Bốn giai đoạn dưới đây có thể là khung tham chiếu cho một chương trình quốc gia.

Giai đoạn 2026 - 2030 phải ưu tiên cụ thể hóa quy hoạch không gian biển, xác định các vùng biển có thể bố trí phát triển điện gió ngoài khơi; trên cơ sở đó mới đánh giá tiềm năng khả thi, xây dựng kiến trúc lưới điện trên biển và trên bờ, xác định hành lang truyền tải ưu tiên. Song song là chuẩn hóa yêu cầu đấu nối, tổ chức khảo sát dữ liệu dùng chung, lựa chọn dự án tiên phong và đầu tư hạ tầng thử nghiệm. Đây cũng là thời điểm phải quyết định ranh giới tài sản giữa trang trại gió, trạm ngoài khơi, cáp xuất tuyến, trạm chuyển đổi trên bờ và lưới truyền tải điện quốc gia.

Giai đoạn 2031 - 2035 tập trung đưa các cụm thương mại đầu tiên vào vận hành an toàn, sử dụng cấu hình HVAC hoặc VSC-HVDC phù hợp với từng vùng. Các dự án đầu tiên không nên bị buộc gánh toàn bộ tham vọng lưới điện một chiều tương lai, nhưng phải được thiết kế theo nguyên tắc sẵn sàng tích hợp DC (DC-ready), có chuẩn dữ liệu và không gian mở rộng. Song song là tăng cường lưới truyền tải điện, xây dựng năng lực sửa chữa cáp biển và đào tạo đội ngũ vận hành.

Giai đoạn 2036 - 2040 chuyển từ kết nối đơn lẻ sang các trung tâm thu gom công suất theo vùng, từng bước triển khai liên kết đa đầu cuối khi điều kiện kỹ thuật, kinh tế và thể chế chín muồi. Giai đoạn 2041 - 2050 hướng tới lưới điện một chiều ngoài khơi có cấu trúc mạch vòng, chia sẻ dự phòng, kết nối nhiều vùng phụ tải và hỗ trợ các trung tâm sản xuất năng lượng mới, kể cả hydro xanh và xuất khẩu điện khi có hiệu quả.

Nguyên tắc xuyên suốt là phát triển theo bằng chứng và giữ quyền lựa chọn. Không khóa cứng một công nghệ quá sớm, nhưng cũng không trì hoãn quyết định tiêu chuẩn đến khi dự án đã phân mảnh. Mỗi giai đoạn chỉ nên chuyển bước khi các điều kiện pháp lý, dữ liệu, tài chính, công nghệ, chuỗi cung ứng và khả năng hấp thụ của lưới điện trên bờ đã đạt ngưỡng cần thiết.

Sáu quyết sách cần triển khai ngay

Thứ nhất, giao một đầu mối đủ thẩm quyền lập và cập nhật kiến trúc lưới điện ngoài khơi quốc gia, bảo đảm phối hợp giữa quy hoạch điện, quy hoạch không gian biển, quốc phòng - an ninh, giao thông hàng hải, dầu khí, viễn thông, địa phương và bảo vệ môi trường.

Thứ hai, cần sớm xác lập mô hình sở hữu và đầu tư lưới điện ngoài khơi. Nhà nước phải làm rõ phần hạ tầng nào do đơn vị truyền tải quy hoạch và đầu tư, phần nào do chủ đầu tư dự án thực hiện; đồng thời quy định cơ chế thu hồi chi phí đối với tài sản dùng chung và phương án xử lý các hạng mục hạ tầng được xây dựng trước khi dự án nguồn chậm tiến độ. Ranh giới quyền sở hữu và trách nhiệm càng minh bạch thì cơ chế đầu tư càng khả thi, hợp đồng càng có tính tin cậy.

Thứ ba, ban hành bộ yêu cầu kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi và HVDC theo hướng mở: yêu cầu về mô hình, ổn định lưới yếu, điều khiển tạo lưới, sóng hài, bảo vệ, dữ liệu, an ninh mạng và khả năng tương tác đa nhà cung cấp. Tiêu chuẩn phải đi trước mua sắm để tránh phụ thuộc công nghệ và giảm chi phí tích hợp về sau.

Thứ tư, cần chủ động quy hoạch và bảo vệ hành lang cáp, điểm cập bờ, quỹ đất dành cho các trạm điện trên bờ và không gian mở rộng lưới truyền tải. Đây đều là những nguồn lực hữu hạn, có ý nghĩa quyết định đối với phát triển điện gió ngoài khơi. Nếu không được dành trước và quản lý từ sớm, chi phí giải phóng mặt bằng, xung đột trong sử dụng không gian biển và rủi ro về môi trường sẽ gia tăng đáng kể, làm chậm tiến độ và đội chi phí đầu tư.

Thứ năm, xây dựng chuỗi cung ứng theo năng lực được chứng nhận, không theo tỷ lệ nội địa hóa hình thức. Việt Nam có lợi thế về kết cấu thép, cơ khí biển, cảng, hậu cần, đóng tàu, tư vấn điện và một số thiết bị điện. Chính sách cần tạo thị trường đủ khả năng dự báo để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đồng thời gắn ưu đãi với chất lượng, thử nghiệm, sở hữu thiết kế, nhân lực Việt Nam và khả năng xuất khẩu.

Thứ sáu, coi dữ liệu và nhân lực là hạ tầng. Dữ liệu khảo sát biển, dữ liệu vận hành và mô hình hệ thống phải có cơ chế chia sẻ có kiểm soát; kỹ sư phải được đào tạo trên mô hình số và bộ mô phỏng trước khi nhận vận hành tài sản thực. Một chương trình công nghệ không có dữ liệu và người làm chủ sẽ chỉ dừng ở mua sắm thiết bị.

Chìa khóa dưới biển, giá trị trên đất nước Việt Nam

Truyền tải điện dưới biển không chỉ là hạ tầng đưa điện từ biển vào bờ mà còn là hạ tầng chiến lược kết nối tài nguyên biển với hệ thống điện quốc gia, kết nối mục tiêu phát thải ròng bằng 0 với an ninh năng lượng và kết nối dòng vốn đầu tư với cơ hội hình thành ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi của Việt Nam.

Thành công đến năm 2050 không nên chỉ được đo bằng số gigawatt tua-bin đã lắp đặt. Những chỉ số quan trọng hơn còn là sản lượng điện thực giao lên lưới, độ sẵn sàng của hệ thống, thời gian khôi phục sau sự cố cáp, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, số mô hình - thiết kế - phần mềm được làm chủ, năng lực thử nghiệm độc lập và khả năng kết nối đa nhà cung cấp.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác lập một định hướng chiến lược: lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển đất nước. Trong khi đó, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã mở ra không gian phát triển cho điện gió ngoài khơi và hạ tầng truyền tải.

Vấn đề đặt ra lúc này là chuyển hai định hướng đó thành một chương trình hành động thống nhất, trong đó lưới điện ngoài khơi phải được chuẩn bị từ sớm; tiêu chuẩn phải đi trước đầu tư, thử nghiệm phải đi trước vận hành và đào tạo nhân lực phải đi trước nhu cầu của thị trường. Nếu làm được như vậy, Việt Nam không chỉ khai mở nguồn gió ngoài khơi. Chúng ta còn có thể hình thành năng lực công nghiệp và công nghệ đủ sức tham gia chuỗi giá trị khu vực, củng cố tự chủ năng lượng và tạo thêm một động lực tăng trưởng xanh cho nhiều thập niên tới. Chìa khóa nằm dưới biển, nhưng giá trị của chiếc chìa khóa ấy phải được thiết kế, làm chủ và lan tỏa trên chính đất nước Việt Nam.

Việt Nam không thiếu gió ngoài khơi. Điều cần nhất hiện nay là một kiến trúc lưới điện ngoài khơi đồng bộ, hạ tầng truyền tải đi trước, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất và năng lực công nghệ trong nước để biến tài nguyên gió thành điện năng, năng lực công nghiệp và động lực tăng trưởng xanh đến năm 2050.

PGS.TS Đinh Văn Châu - Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/truyen-tai-dien-duoi-bien-ha-tang-di-truoc-de-khai-mo-dien-gio-ngoai-khoi-465099.html