TS. Nguyễn Thị Sửu, Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội: Đầu tư công nghệ, mở rộng cơ hội phát triển cho đồng bào vùng cao

Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là đầu tư cho hạ tầng hay thiết bị, mà sâu xa hơn là mở thêm cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ, thị trường và nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, Tiến sĩ Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Huế, Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của định hướng này trong tiến trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

+ Thưa Tiến sĩ Nguyễn Thị Sửu, thời gian qua, Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm ngày càng lớn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo bà, sự quan tâm này có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của vùng?

- Tôi cho rằng đây là một định hướng rất có ý nghĩa, bởi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành một phần quan trọng của quá trình phát triển. Nếu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không được tạo điều kiện tiếp cận những thành quả đó thì khoảng cách phát triển sẽ khó được thu hẹp.

Đặc thù của vùng này là địa bàn rộng, địa hình chia cắt, nhiều nơi xa trung tâm, điều kiện tiếp cận dịch vụ, thông tin, thị trường còn hạn chế. Chính vì vậy, công nghệ nếu được đưa đến đúng cách có thể giúp rút ngắn những khoảng cách vốn rất lớn về không gian.

Đại biểu Quốc hội, TS. Nguyễn Thị Sửu - Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội, TS. Nguyễn Thị Sửu - Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, đầu tư khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không nên chỉ được hiểu là đưa máy tính, điện thoại thông minh hay Internet về vùng khó khăn. Điều quan trọng hơn là đồng bào có sử dụng được công nghệ để phục vụ cuộc sống hay không. Công nghệ phải giúp người dân học tập thuận lợi hơn, tiếp cận dịch vụ công dễ hơn, sản xuất hiệu quả hơn, đưa sản phẩm đến thị trường rộng hơn và có thêm thông tin để chủ động trước những vấn đề của cuộc sống. Đó mới là giá trị thực chất của đầu tư.

+ Như vậy, theo bà, điều cần quan tâm hiện nay không chỉ là “phủ” hạ tầng số mà còn phải thu hẹp khoảng cách về năng lực số?

- Đúng vậy. Tôi nghĩ đây là vấn đề cần nhìn nhận rất rõ. Một người dân có điện thoại thông minh nhưng không biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, không biết tìm kiếm thông tin chính thống, không biết bán sản phẩm trên môi trường số hoặc không nhận diện được những nguy cơ lừa đảo thì chiếc điện thoại ấy chưa thực sự tạo ra nhiều giá trị.

Thực tế ở một số địa bàn vùng cao cho thấy, khi cán bộ, giáo viên, đoàn viên, thanh niên hoặc tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp hướng dẫn, “cầm tay chỉ việc”, người dân nhanh chóng nhận ra lợi ích của công nghệ. Có những thủ tục trước đây phải đi một quãng đường rất xa mới thực hiện được, nay có thể được hỗ trợ ngay tại thôn, bản. Có những sản phẩm trước đây chỉ bán trong phạm vi địa phương, nay có thể giới thiệu trên mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để tiếp cận khách hàng ở những địa phương khác.

Vì vậy, tôi cho rằng cùng với đầu tư hạ tầng, cần đặc biệt quan tâm đến con người - chủ thể của chuyển đổi số. Phải có cách hướng dẫn phù hợp với trình độ, điều kiện và đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng. Không thể mang một cách làm áp dụng ở đô thị về áp dụng nguyên cho một bản vùng cao.

Đồng bào cần được hướng dẫn những gì thiết thực nhất với họ. Người nông dân cần biết công nghệ giúp mình sản xuất, tiêu thụ nông sản thế nào; người trẻ cần biết khai thác công nghệ phục vụ học tập, việc làm; người lớn tuổi cần biết cách bảo vệ tài khoản, nhận diện thông tin giả, phòng tránh lừa đảo. Khi kỹ năng số gắn với nhu cầu hằng ngày thì người dân sẽ chủ động tiếp nhận và sử dụng lâu dài hơn.

Ứng dụng khoa học, công nghệ giúp đồng bào nâng cao hiệu quả sản xuất, từng bước cải thiện thu nhập (Trong ảnh: Bộ đội Biên phòng Lai Châu hướng dẫn đồng bào dân tộc Mảng trồng lúa nước). Ảnh: Trần Văn.

Ứng dụng khoa học, công nghệ giúp đồng bào nâng cao hiệu quả sản xuất, từng bước cải thiện thu nhập (Trong ảnh: Bộ đội Biên phòng Lai Châu hướng dẫn đồng bào dân tộc Mảng trồng lúa nước). Ảnh: Trần Văn.

+ Một trong những yêu cầu được đặt ra là khoa học, công nghệ phải giải quyết những “bài toán” thực tiễn. Điều này có ý nghĩa thế nào đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thưa bà?

- Tôi rất đồng tình với cách tiếp cận đó. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khoa học, công nghệ càng phải đi vào những vấn đề cụ thể của cuộc sống.

Chẳng hạn, một giống cây phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng địa phương; một quy trình sản xuất giúp giảm chi phí, nâng chất lượng sản phẩm; công nghệ truy xuất nguồn gốc để nâng giá trị nông sản; hay một giải pháp số giúp quảng bá sản phẩm OCOP, phát triển du lịch cộng đồng... đều có thể tạo ra tác động rất thiết thực.

Điều đáng quý là nhiều vùng có những sản phẩm đặc trưng, tri thức bản địa và giá trị văn hóa riêng. Nếu được hỗ trợ bằng khoa học, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu và phương thức tiếp cận thị trường hiện đại, những giá trị ấy có thể trở thành nguồn lực phát triển. Đây cũng là hướng để đồng bào không chỉ sản xuất ra sản phẩm mà còn từng bước nâng cao giá trị của chính sản phẩm mình làm ra.

Tôi nghĩ cần chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ” sang tư duy “tạo năng lực”. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ là rất cần thiết, nhất là với những địa bàn còn khó khăn. Nhưng mục tiêu cuối cùng phải là để người dân có thêm năng lực, có thêm cơ hội và từng bước chủ động vươn lên.

+ Xin trân trọng cảm ơn bà!

Nguyễn Hường (thực hiện)

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/ts-nguyen-thi-suu-uy-vien-hoi-dong-dan-toc-cua-quoc-hoi-dau-tu-cong-nghe-mo-rong-co-hoi-phat-trien-cho-dong-bao-vung-cao-post363447.html