TS. Phan Đức Hiếu: Tận dụng nguồn lực nhập khẩu để nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Theo TS Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cần nhìn sâu hơn vào cơ cấu và mối quan hệ giữa nhập khẩu với sản xuất, xuất khẩu; quan trọng hơn nữa là cần chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu này thành cơ hội nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước. Tạp chí Công Thương đã có trao đổi với TS Phan Đức Hiếu xung quanh vấn đề này.

TS Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội (Ảnh: VIAC)
TCCT: Thưa TS Phan Đức Hiếu, chín tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 24,5%, nhập khẩu tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Ở góc độ kinh tế vĩ mô, ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề nhập siêu trong những tháng đầu năm?
TS Phan Đức Hiếu: Ở góc độ vĩ mô, đặc biệt khi định hướng phát triển kinh tế của nước ta là hội nhập, thu hút FDI, đẩy mạnh xuất khẩu và tạo giá trị gia tăng trong nước, đồng thời doanh nghiệp cũng định hướng mở rộng thị trường, rõ ràng con số nhập siêu cho thấy có những vấn đề cần được nhìn nhận kỹ hơn so với các mục tiêu và cách thức vận hành nền kinh tế đặt ra.
Sâu xa hơn, trong một thế giới nhiều biến động, các hoạt động thương mại hiện nay rất khó lường và chịu tác động lớn bởi yếu tố chi phí, giá cả. Trước hết là chi phí về nguyên vật liệu, hàng hóa nhập khẩu. Nếu chi phí ở nước ngoài tăng thì trong nước chắc chắn cũng bị tác động; hay nếu thị trường bên ngoài bất ổn thì trong nước cũng có thể bị ảnh hưởng. Đây là vấn đề cần phải lường trước.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn phải giữ cân đối vĩ mô, những yếu tố này đều gây áp lực rất lớn lên điều hành kinh tế cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nhìn vào các con số chung, tôi cho rằng bức tranh này có thể có cả những mặt tích cực, nhưng cần được phân tích và chứng minh cụ thể.
Chẳng hạn, khi nền kinh tế đang tăng trưởng cao và chúng ta đặt mục tiêu tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng, việc gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất, máy móc, thiết bị rõ ràng có mối quan hệ với hoạt động đầu tư và tăng trưởng. Điều đó có thể lý giải rằng nền kinh tế cũng đang tăng đầu tư, chuẩn bị cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và chu kỳ phát triển tiếp theo, qua đó đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Thế nhưng, sâu xa hơn nữa, khi nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu để phục vụ cho tăng trưởng, chúng ta mong muốn cơ hội tăng trưởng đó phải là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước. Đây là cơ hội tốt để nâng cao năng lực sản xuất, chứ không phải chúng ta lại xây dựng năng lực chủ yếu bằng nhập khẩu.
Vì vậy, theo tôi, cần bóc tách sâu hơn bức tranh xuất nhập khẩu. Không chỉ nhìn vào quy mô, giá trị kim ngạch, mà cần xem mức tăng đó có chịu tác động bởi yếu tố giá hay không; bức tranh xuất nhập khẩu có cân bằng không, cơ cấu trong từng lĩnh vực, từng mặt hàng như thế nào; mối quan hệ giữa nhập khẩu và xuất khẩu, giữa các chủ thể, thậm chí là trong từng doanh nghiệp lớn, ra sao?
Có như vậy mới có thể nhận diện rõ hơn đâu là những yếu tố mang tính thời điểm và đâu là nguyên nhân căn cơ của bức tranh xuất nhập khẩu hiện nay.
TCCT: Như ông vừa phân tích, nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ tăng trưởng cũng có thể mở ra cơ hội cho sản xuất trong nước. Các số liệu cho thấy nhập khẩu nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD trong 9 tháng, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 58,3%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.
Theo ông, cần làm gì để chuyển hóa hiệu quả nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất, phát triển sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng trong nước, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị?
TS Phan Đức Hiếu: Đối với xuất nhập khẩu, tôi nghĩ có hai vấn đề mà chúng ta luôn mong muốn đạt được.
Thứ nhất, phải gia tăng giá trị, đặc biệt là giá trị tạo ra cho doanh nghiệp trong nước. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải tham gia, kết nối nhiều hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời tham gia cung cấp nhiều hơn nguyên vật liệu sản xuất trong nước cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu.
Thứ hai, bản thân doanh nghiệp trong nước phải tự nâng cao năng lực và tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế.
Để cải thiện hai vấn đề này, tôi cho rằng hiện nay các chủ trương của Đảng đã rất rõ, đặc biệt là trong thời gian vừa qua, chúng ta đã có bộ ba Nghị quyết về kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tất cả những quan điểm, chủ trương, mục tiêu đã được xác định khá đầy đủ. Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành cũng đang rất tích cực, quyết liệt trong việc thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng.
Điều quan trọng nhất bây giờ là phải chuyển những định hướng, giải pháp đó thành thực tiễn. Theo tôi, không nên chỉ dừng lại ở việc xây dựng pháp luật và các khung chính sách, mà cần có những chương trình cụ thể để thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng và các quy định của pháp luật, như chương trình kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất.

Theo TS Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cần nhìn sâu hơn vào cơ cấu và mối quan hệ giữa nhập khẩu với sản xuất, xuất khẩu; quan trọng hơn nữa là cần chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu này thành cơ hội nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước (Ảnh: Internet)
Nói đến xuất khẩu hay nhập khẩu, tôi vẫn cho rằng, xét về bản chất, vấn đề không chỉ là mở rộng thị trường hay bao bì, đóng gói, mà quan trọng nhất vẫn là năng lực sản xuất ra những sản phẩm thực sự có chất lượng và sức cạnh tranh. Vì vậy, các chương trình nâng cao năng lực sản xuất phải được coi là giải pháp căn bản, chứ không phải những chương trình mang tính chất bổ trợ. Ở thời điểm này, tôi rất mong các cơ quan quản lý nhà nước, bên cạnh việc hoàn thiện các khung chính sách, cần lựa chọn và triển khai những chương trình thiết thực.
Đây cũng là một cơ hội rất tốt khi chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Chúng ta có cơ hội đầu tư, mua sắm trang thiết bị, tư liệu sản xuất để phục vụ các chu kỳ sản xuất mới. Nhưng nếu có thể biến cơ hội từ nhập khẩu đó thành cơ hội phát triển năng lực sản xuất trong nước thì đây sẽ là một dư địa rất lớn. Nói cách khác, phải làm sao biến những cơ hội tăng trưởng của nền kinh tế thành cơ hội cho chính doanh nghiệp trong nước.
Một vấn đề nữa là cần sớm nghĩ đến một chiến lược xuất nhập khẩu theo hướng bài bản và căn cơ hơn. Ở đây không nên chỉ dừng lại ở xuất nhập khẩu hàng hóa mà còn phải tính đến bài toán về xuất nhập khẩu dịch vụ.
Theo tôi, chiến lược này phải hướng vào những giải pháp thực sự nâng cao năng lực sản xuất trong nước và tận dụng ngay chính cơ hội phát triển của mình, thay vì chỉ tập trung vào các biện pháp mang tính bổ trợ.
Đây rõ ràng không phải là một bài toán dễ và cũng không nên coi là một bài toán ngắn hạn. Có những giải pháp cần triển khai ngay trong ngắn hạn, nhưng tổng thể phải được đặt trong một bài toán dài hạn, gắn với mục tiêu tăng trưởng của đất nước.
TCCT: Thưa ông, để giải quyết được những vấn đề đó, đâu là những ưu tiên chính sách cần tập trung, ưu tiên để vừa tận dụng được nguồn lực nhập khẩu cho tăng trưởng trước mắt, vừa từng bước nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế theo hướng bền vững trong lâu dài?
TS Phan Đức Hiếu: Đây đúng là câu chuyện của toàn nền kinh tế, của tất cả các ngành, các cấp. Tôi cho rằng các chủ trương và định hướng giải pháp hiện nay đã khá rõ và tương đối đầy đủ. Tôi chỉ muốn gợi ý thêm một số vấn đề trong quá trình triển khai.
Trước hết, các cơ quan cần bám sát diễn biến xuất nhập khẩu để có động thái, chính sách điều tiết phù hợp, nhất là đối với các vấn đề về tỷ giá, thanh toán, dự trữ ngoại hối...
Bên cạnh đó, có ba vấn đề mà tôi cho rằng cần đặc biệt quan tâm.
Thứ nhất, xem xét cơ hội phát triển của chúng ta theo mục tiêu và mong muốn dài hạn. Trước mắt chúng ta có thể nhập tư liệu sản xuất, máy móc, thiết bị để đáp ứng yêu cầu phát triển, nhưng không nên để tình trạng này tiếp tục kéo dài. Khi xây dựng các chương trình, giải pháp, phải coi yêu cầu tăng trưởng hiện nay là một cơ hội để nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Tôi vẫn nhìn nhận đây là một cơ hội chưa từng có. Vì vậy, các chương trình cần hướng đến mục tiêu từng bước thay thế những máy móc, tư liệu sản xuất mà chúng ta đang nhập khẩu. Thời kỳ đầu có thể không tránh khỏi, nhưng về lâu dài phải hướng tới nâng cao năng lực sản xuất để trong nước tự chủ được, bởi đây không phải là câu chuyện chỉ diễn ra trong vòng một, hai năm tới.
Thứ hai, chúng ta nói nhiều về liên kết doanh nghiệp trong nước với FDI, về việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng theo tôi, tại sao chúng ta không tiếp cận theo hướng phát triển những chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt? Điều này đã được nhắc đến nhưng chưa thực sự rõ nét.
Chúng ta đã có định hướng thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam “Go Global”, cần hình thành những doanh nghiệp trong nước đủ năng lực đứng đầu, dẫn dắt và tạo ra các chuỗi giá trị của Việt Nam, của doanh nghiệp Việt. Tôi tin rằng chúng ta có thể làm được, nhưng rõ ràng cần những biện pháp mạnh mẽ hơn để các doanh nghiệp lớn dẫn dắt, vươn ra nước ngoài và kéo theo các doanh nghiệp khác trong chuỗi. Chúng ta khó có thể chỉ trông chờ vào việc được tham gia vào các chuỗi sẵn có, mà phải chủ động hơn để thay đổi cuộc chơi thông qua từng bước định hình chuỗi của chính minh.
Thứ ba, đối với bài toán xuất nhập khẩu, cần chú ý hơn đến một số vấn đề kỹ thuật. Trước hết, phải rất minh bạch về nguồn gốc xuất xứ và ghi nhãn, đặc biệt đối với những sản phẩm xuất khẩu sang những thị trường mà Việt Nam có mức xuất siêu lớn. Điều này rất quan trọng. Chúng ta phải kiểm soát tốt, bảo đảm minh bạch, tuân thủ tuyệt đối các quy định, đồng thời kịp thời cung cấp thông tin và giải trình để tránh những quan ngại không đáng có.
Cùng với đó, đối với sản xuất trong nước, cần nâng cao chất lượng chứng nhận xuất xứ hàng hóa, ghi nhãn, và tiếp tục tăng cường đấu tranh với các hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ. Chính phủ thời gian qua đã rất tích cực trong vấn đề này, nhưng đây là công việc phải làm thường xuyên và không có điểm dừng.
Một doanh nghiệp bỏ ra rất nhiều nguồn lực để nghiên cứu, phát triển, tạo ra một sản phẩm, trong khi vòng đời của sản phẩm hiện nay ngày càng ngắn. Nếu sản phẩm đó bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì gần như chúng ta không tạo được cơ hội cho doanh nghiệp, chưa kể đến bối cảnh hiện nay các nền kinh tế khác cũng rất quan tâm đến vấn đề này.
Làm tốt những vấn đề này sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch cũng như năng lực sản xuất trong nước.
TCCT: Trân trọng cảm ơn ông!

