Từ '100 ngày cao điểm' đến dòng chảy dữ liệu dân tộc, tôn giáo chuẩn hóa

Cơ sở dữ liệu về dân tộc, tôn giáo đã được kết nối chính thức với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Đây là quá trình chuẩn hóa một khối dữ liệu lớn, thay đổi cách thức quản lý và đưa dữ liệu dân tộc, tôn giáo vào dữ liệu dùng chung của quốc gia.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang chủ trì cuộc họp, yêu cầu hoàn thành phiên bản 1.0 của CSDL về dân tộc và CSDL về tôn giáo trước ngày 20/9/2026.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang chủ trì cuộc họp, yêu cầu hoàn thành phiên bản 1.0 của CSDL về dân tộc và CSDL về tôn giáo trước ngày 20/9/2026.

Từ một yêu cầu cấp tốc đến cuộc “chạy đua” với dữ liệu

Xuất phát từ yêu cầu tăng tốc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) dân tộc, tôn giáo, ngày 30/6/2026, tại cuộc họp về xây dựng CSDL chuyên ngành, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang yêu cầu triển khai đồng thời các nhóm nhiệm vụ về pháp lý, dữ liệu, phần mềm - nền tảng và kết nối; phấn đấu hoàn thành phiên bản 1.0 của CSDL về dân tộc và tôn giáo trước ngày 20/9.

Một ngày sau, kế hoạch 100 ngày tăng tốc được triển khai.

Mốc 20/9 tưởng như chỉ là một con số trên kế hoạch. Để đi tới mốc này, Bộ phải đồng thời giải quyết nhiều bài toán: Xác định danh mục dữ liệu, phân công trách nhiệm, xây dựng nền tảng, thu thập dữ liệu từ Trung ương đến địa phương, rà soát, xác thực, làm sạch, chuẩn hóa và cuối cùng là kết nối với hạ tầng dữ liệu quốc gia.

Đối với CSDL về dân tộc, khối lượng được xác định gồm 15 hạng mục với 2.236 trường thông tin, bao quát từ thông tin về các DTTS; đội ngũ cán bộ, Người có uy tín; học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS xuất sắc, tiêu biểu… đến dữ liệu phân định vùng DTTS và miền núi; khoa học - công nghệ, đào tạo, bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em DTTS.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh rà soát việc triển khai xây dựng CSDL về dân tộc

Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh rà soát việc triển khai xây dựng CSDL về dân tộc

Với CSDL về tôn giáo, Bộ cũng từng bước xác lập danh mục, nhóm thông tin cơ bản và các trường thông tin của phiên bản 1.0. Đây là cơ sở để chuyển từ cách quản lý thông tin phân tán sang một cấu trúc dữ liệu thống nhất.

Nhưng xây dựng danh mục mới chỉ là bước đầu.

Giải bài toán khó của 100 ngày

Có thể dựng một hệ thống phần mềm trong thời gian tương đối ngắn. Nhưng để có một CSDL đáng tin cậy lại là câu chuyện khác.

Dữ liệu về dân tộc và tôn giáo được hình thành qua nhiều năm, từ nhiều nguồn, ở nhiều cấp. Cùng một thông tin có thể được lưu trữ dưới những định dạng khác nhau; địa danh, đơn vị hành chính, cách thống kê và phương thức cập nhật cũng có thể thay đổi.

Bởi vậy, công việc khó nhất của 100 ngày không phải là nhập dữ liệu, mà là xác định dữ liệu nào đúng, dữ liệu nào cần sửa, dữ liệu nào đã đủ căn cứ và ai chịu trách nhiệm về dữ liệu đó.

Đây cũng là lý do Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Hoài Anh yêu cầu CSDL về dân tộc phải bảo đảm các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Thứ trưởng yêu cầu không chạy theo số lượng bản ghi, mà phải phân loại rõ trường thông tin đã có dữ liệu, trường chưa thể thu thập và trường cần bổ sung căn cứ pháp lý hoặc chế độ thống kê.

Cách tiếp cận này cho thấy một thay đổi quan trọng: CSDL không phải là nơi tập hợp thật nhiều thông tin, mà phải trở thành nguồn dữ liệu có thể tin cậy để phục vụ quản lý.

Đến ngày 28/9, nền tảng thu thập dữ liệu dân tộc đã triển khai chức năng tạo lập cho 12/15 nhóm dữ liệu, trong đó 11 nhóm đã hoặc đang phát sinh dữ liệu. Đáng chú ý, 53/53 hồ sơ đặc điểm của các DTTS đã được cập nhật; dữ liệu phân định vùng đồng bào DTTS và miền núi bao phủ 15 tỉnh, 1.514 xã, 34.084 thôn, trong đó có 13.205 thôn đặc biệt khó khăn.

Dữ liệu Người có uy tín cũng có bước tiến đáng kể: 19/34 địa phương đã cập nhật 2.360 hồ sơ.

Những con số này cho thấy tốc độ tạo lập dữ liệu đã tăng lên rõ rệt. Nhưng quan trọng hơn, dữ liệu đang dần chuyển từ những hồ sơ rời rạc thành những tập dữ liệu có cấu trúc và có khả năng chia sẻ.

Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hải Trung chủ trì cuộc họp xây dựng CSDL về tôn giáo

Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hải Trung chủ trì cuộc họp xây dựng CSDL về tôn giáo

Những người đứng sau dữ liệu

Một cơ sở dữ liệu cấp quốc gia không thể được tạo ra chỉ bởi đội ngũ công nghệ.

Ở Trung ương, Trung tâm Chuyển đổi số (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) chịu trách nhiệm về nền tảng, quản lý, vận hành và khả năng kết nối; các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm về nội dung, tiêu chí nghiệp vụ và chất lượng dữ liệu.

Ở địa phương, việc rà soát những thông tin vốn được lưu trữ theo nhiều cách khác nhau, đối chiếu với thực tế, cập nhật lên hệ thống và chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu.

Đó là phần việc ít xuất hiện trên giao diện của một hệ thống số nhưng lại quyết định chất lượng của toàn bộ hệ thống.

Về lĩnh vực dân tộc, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh yêu cầu biểu mẫu, quy trình và tài liệu hướng dẫn phải đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện; hạn chế nhập thủ công, hỗ trợ nhập dữ liệu hàng loạt và có cơ chế phát hiện dữ liệu trùng lặp hoặc thiếu chính xác. Hệ thống cũng được định hướng hỗ trợ tìm kiếm, truy vấn dữ liệu theo phân quyền và tiến tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ rà soát, phân tích dữ liệu.

Với lĩnh vực tôn giáo, yêu cầu cũng được đặt theo hướng dữ liệu phải gắn với nhu cầu quản lý thực tế. Việc Bộ ban hành danh mục dữ liệu, nhóm thông tin cơ bản và trường thông tin trong CSDL về tôn giáo phiên bản 1.0 là bước quan trọng để thống nhất cấu trúc dữ liệu và trách nhiệm cập nhật.

Thứ trưởng Nguyễn Hải Trung nhấn mạnh đồng thời cả phạm vi dữ liệu, trách nhiệm tạo lập, phương thức khai thác và hiệu quả sử dụng. Các CSDL phải xác định rõ phạm vi thu thập, quy trình tạo lập, trách nhiệm cập nhật và phương thức khai thác.

Điểm đáng chú ý trong chỉ đạo này là dữ liệu không được xây dựng chỉ để hoàn thành một nhiệm vụ công nghệ. Hiệu quả phải được nhìn từ khả năng khai thác thực tế, tần suất sử dụng, số lượng người sử dụng và mức độ phục vụ công tác quản lý nhà nước.

Cách tiếp cận này cho thấy một yêu cầu quan trọng: Xây dựng CSDL phải bắt đầu từ bài toán quản lý, sau đó mới đến công nghệ.

Khi dữ liệu bước vào hạ tầng quốc gia

Nếu 100 ngày đầu là quá trình tạo lập dữ liệu, mốc 20/9 đánh dấu bước chuyển sang một giai đoạn khác: Kết nối dữ liệu với hạ tầng dùng chung của quốc gia.

Theo báo cáo của Bộ, ngày 20/9/2026, CSDL về dân tộc và tôn giáo đã được kết nối chính thức với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, hoàn thành trước thời hạn cam kết. Sau mốc này, Bộ tiếp tục tạo lập, chuẩn hóa, làm sạch, xác thực, cập nhật và duy trì dữ liệu “sống”, đồng thời mở rộng chia sẻ và khai thác theo lộ trình.

Đây là chi tiết cần được nhìn nhận đúng mức.

Bởi nếu chỉ nói “xây dựng xong cơ sở dữ liệu”, câu chuyện mới dừng ở việc một cơ quan có thêm một hệ thống thông tin. Nhưng kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia có nghĩa là dữ liệu chuyên ngành bắt đầu được đặt trong một kiến trúc lớn hơn, có khả năng trao đổi và chia sẻ với các hệ thống dữ liệu khác theo các quy định, tiêu chuẩn và yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin.

Nói cách khác, đây là bước chuyển từ “có dữ liệu” sang “dữ liệu có thể kết nối, chia sẻ và khai thác trong hệ sinh thái dữ liệu quốc gia”.

Ý nghĩa này càng rõ hơn sau cuộc họp ngày 29/9. Khi đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo xác nhận hai nhóm dữ liệu thuộc CSDL về dân tộc và nhóm danh mục tôn giáo thuộc CSDL về tôn giáo đã được kết nối, chia sẻ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.

Hai nhóm dữ liệu dân tộc gồm dữ liệu đặc điểm của 53 DTTS và dữ liệu phân định vùng đồng bào DTTS, miền núi. Phía tôn giáo đã đồng bộ nhóm danh mục tôn giáo. Đây là 3 nhóm dữ liệu đầu tiên, trong khi các nhóm còn lại tiếp tục được tạo lập, xác thực và chia sẻ theo mức độ sẵn sàng.

Như vậy, “kết nối” không phải là thao tác cuối cùng của chiến dịch. Nó mở ra một yêu cầu cao hơn: Dữ liệu phải đủ tốt để có thể đi qua các hệ thống khác nhau mà vẫn bảo đảm tính chính xác, thống nhất và an toàn.

Đây chính là lý do sau khi kết nối, Bộ vẫn phải phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an để đánh giá an toàn thông tin, đồng thời chuẩn bị cho việc đối soát với CSDL quốc gia về dân cư và VNeID.

Từ “100 ngày” đến một dòng chảy dữ liệu liên tục

Một dấu hiệu cho thấy nhiệm vụ đã bước sang giai đoạn mới là cách chỉ đạo sau mốc 20/9.

Ngày 29/9, Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Hoài Anh yêu cầu các đơn vị không chờ hoàn thiện đồng loạt mà triển khai theo phương thức cuốn chiếu: Nhóm dữ liệu nào hoàn thành thì kiểm tra, ký số và chuyển ngay nhóm đó. Mục tiêu là hoàn tất chuyển dữ liệu trước ngày 20/11/2026.

Đây là cách tiếp cận khác với tư duy “làm xong một dự án rồi kết thúc”.

Dữ liệu về dân tộc và tôn giáo sẽ tiếp tục được bổ sung, cập nhật, xác thực và làm sạch. Những nhóm dữ liệu chưa hoàn chỉnh sẽ tiếp tục được tạo lập. Các nhóm đã kết nối sẽ tiếp tục được khai thác, đối soát và mở rộng khả năng chia sẻ.

Bởi dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi nó "sống".

Đó là việc đặt những dữ liệu vốn nằm rải rác trong nhiều hệ thống, nhiều cấp quản lý vào một cấu trúc thống nhất, từng bước kết nối chúng với hạ tầng dữ liệu quốc gia.

Từ đây, bài toán lớn hơn bắt đầu: Làm thế nào để dữ liệu dân tộc, tôn giáo thực sự đi vào công tác chỉ đạo, điều hành; hỗ trợ phân tích chính sách; giúp nhận diện đúng đối tượng, đúng địa bàn và đúng nhu cầu; giảm báo cáo thủ công và nâng cao chất lượng tham mưu.

Ngành công tác dân tộc và tôn giáo chuyển từ giai đoạn “xây nền” sang giai đoạn “vận hành dòng chảy dữ liệu”. Và giá trị cuối cùng của dòng chảy ấy sẽ được đo không phải bằng số lượng bản ghi, mà bằng việc dữ liệu giúp Nhà nước ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và sát thực tiễn hơn.

Hoàng Quý

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/tu-100-ngay-cao-diem-den-dong-chay-du-lieu-dan-toc-ton-giao-chuan-hoa-2561922.html