Từ 'Hoàng hậu cuối cùng' đến bài toán quyền tài sản trí tuệ

Tranh cãi quanh những tác phẩm khai thác chất liệu lịch sử đặt ra câu hỏi về chủ thể quyền đối với tài sản trí tuệ. Khi dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa lần đầu gọi tên tài sản trí tuệ gốc, việc xác định rõ các lớp quyền và chủ thể sở hữu càng trở nên cấp thiết.

Bài toán ranh giới giữa sáng tạo và lịch sử

Dù còn hơn nửa năm nữa mới dự kiến ra rạp, “Hoàng hậu cuối cùng” đã sớm trở thành tâm điểm tranh luận. Từ tháng 7/2026, bộ phim của Bảo Nhân, Nam Cito liên tục nhận ý kiến trái chiều về cách tái hiện nhân vật lịch sử, tạo hình, phục trang Nam Phương Hoàng hậu, Hoàng thái hậu và một số nhân vật triều Nguyễn. Khả năng hư cấu, kịch tính hóa tình tiết, cùng lời thoại, lễ nghi, nếp sống và gia phong thời Nguyễn cũng được bàn luận.

Tranh cãi lên đến đỉnh điểm khi ngày 25/7, Hội đồng Nguyễn Phúc tộc Việt Nam gửi đơn khiếu nại tới Cục Điện ảnh, cho rằng phim khai thác trái phép danh tính và câu chuyện gia đình của cựu hoàng Bảo Đại, Nam Phương Hoàng hậu, Thái hậu Từ Cung và các con, đồng thời đề cập khả năng khởi kiện. Ngày 16/8, Hội đồng Nguyễn Phúc tộc hải ngoại cùng Hoàng tử Bảo Ân và Hoàng tử Patrick Edouard Nguyễn Phúc (các con của Cựu hoàng Bảo Đại) tiếp tục gửi đơn, yêu cầu minh bạch nguồn tư liệu, tham vấn chuyên môn và điều chỉnh những nội dung họ cho rằng gây hiểu lầm hoặc ảnh hưởng đến danh dự gia đình.

Tạo hình các nhân vật trong phim “Hoàng hậu cuối cùng”

Về nội dung trên, Cục trưởng Cục Điện ảnh Đặng Trần Cường cho biết Cục đã nhận đơn, song bộ phim chưa hoàn thành và chưa được trình Hội đồng thẩm định. Vì vậy, theo ông, tác phẩm cần được xem xét trên cơ sở bản phim hoàn chỉnh.

Trong khi đó, HK Film, nhà sản xuất “Hoàng hậu cuối cùng”, khẳng định phim sử dụng chất liệu văn hóa, giai thoại về triều Nguyễn theo kịch bản của Nam Cito, Bảo Nhân; không phải phim lịch sử và không có ý định xuyên tạc, bôi nhọ nhân vật. Phim vẫn đang trong quá trình sản xuất và phải qua thẩm định, phân loại trước khi được cấp phép phổ biến.

“Hoàng hậu cuối cùng” không phải trường hợp đầu tiên đặt ra tranh luận về ranh giới giữa tư liệu và hư cấu. Năm 2022, “Em và Trịnh” cũng gây tranh cãi với một số chi tiết về cuộc đời Trịnh Công Sơn, trong đó có mối quan hệ giữa ông và ca sĩ Khánh Ly. Ê-kíp khi đó cho biết phim được xây dựng từ nhiều tư liệu, hồi ức và câu chuyện về Trịnh Công Sơn, nhưng có hư cấu để tạo ngôn ngữ điện ảnh.

Tính đến thời điểm hiện tại, việc ai đúng, ai sai, sai như thế nào và đến đâu trong câu chuyện của “Em và Trịnh”, “Hoàng hậu cuối cùng” vẫn chưa có câu trả lời cụ thể. Theo luật sư Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh), Luật Điện ảnh năm 2022 không quy định riêng một thể loại pháp lý mang tên "phim lấy cảm hứng từ nhân vật lịch sử có thật", cũng không yêu cầu nhà sản xuất phải xin phép hậu duệ trước khi xây dựng nhân vật. Nhà làm phim được quyền hư cấu lời thoại, tâm lý, tình huống và lựa chọn cách diễn giải lịch sử để tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên, quyền sáng tạo không phải là quyền tùy ý gán ghép.

“Luật cũng không đặt ra ranh giới định lượng, chẳng hạn được hư cấu bao nhiêu phần trăm hoặc có bao nhiêu chi tiết sai lệch thì bị coi là xuyên tạc. Vì vậy một sai sót về phục trang hoặc nghi lễ chưa hẳn đã là xuyên tạc lịch sử. Nhưng nếu phim cố ý đảo ngược sự kiện căn bản hoặc gán cho người thật hành vi phản quốc, đồi bại hay phẩm chất nghiêm trọng mà không có căn cứ, tác phẩm có thể vượt giới hạn pháp luật. Đây là ranh giới định tính, phải đánh giá toàn bộ tác phẩm trong bối cảnh cụ thể, không thể chỉ căn cứ vào một vài cảnh trong trailer”, ông Hà nói.

Ai có quyền với tài sản trí tuệ của tiền nhân?

Những ồn ào về hai bộ phim nói trên khiến câu chuyện bản quyền và quyền khai thác trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam đã, đang tồn tại nhiều vấn đề cần bàn luận.

Theo giám tuyển Lý Đợi, những tranh cãi quanh các tác phẩm lấy chất liệu từ nhân vật, tác phẩm có thật cho thấy vấn đề bản quyền trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật không đơn giản là câu chuyện “ai sở hữu tác phẩm”. Đằng sau một tác phẩm còn có nhiều lớp quyền liên quan đến lịch sử sở hữu, thừa kế, quyền phái sinh và khai thác thương mại.

Ông Lý Đợi nhấn mạnh, khi tác giả đã qua đời, tác phẩm vẫn có thể tiếp tục được khai thác và phát sinh những vấn đề mới như: ai thực sự là người thừa kế quyền, ai có quyền ký hợp đồng, nếu có nhiều người thừa kế thì quyền và lợi ích được phân chia như thế nào…

NSND Trần Lực (phải) trong vai Trịnh Công Sơn

Một lớp quyền khác được ông đặc biệt lưu ý là quyền phái sinh. Theo ông, một tác phẩm gốc có thể đã hết thời hạn bảo hộ, nhưng những sản phẩm mới được tạo ra từ tác phẩm đó vẫn có thể phát sinh quyền riêng. “Ví dụ một tác phẩm văn học đã hết bản quyền, tôi có thể sử dụng tác phẩm đó để làm một bộ phim, một bản ghi âm, một bản phối hoặc một sản phẩm sáng tạo mới. Tác phẩm gốc có thể không còn bản quyền, nhưng sản phẩm được tạo ra từ nó lại có quyền. Khi sản phẩm đó thành công và tạo ra lợi nhuận lớn thì phải xác định các quyền thuộc về ai, ai được hưởng lợi và chia như thế nào”, ông nói.

Từ đó, ông cho rằng những tác phẩm lấy cảm hứng từ nhân vật lịch sử hoặc tác phẩm đã có từ lâu càng cần được nhìn dưới nhiều lớp quyền. Việc tác phẩm gốc đã hết thời hạn bảo hộ không đồng nghĩa mọi tranh chấp liên quan đến việc khai thác đều tự động biến mất. Bên cạnh quyền tài sản còn có những vấn đề liên quan đến danh dự, hình ảnh, gia đình, hậu duệ và cách diễn giải nhân vật.

“Văn hóa, nghệ thuật còn một yếu tố rất đặc biệt là cảm xúc. Một người có thể không phản ứng khi một tác phẩm được khai thác ở quy mô nhỏ, nhưng nếu tác phẩm đó thành công, tạo ra rất nhiều tiền hoặc chạm vào những vấn đề gia đình, hậu duệ cho rằng ảnh hưởng đến danh dự của họ thì tranh chấp có thể xuất hiện”, ông nhận định.

Tại Trung Quốc, các tác phẩm gắn với Khổng Tử, Lý Bạch hay cụm di sản Giang Nam Tứ… dù đã hết thời hạn bảo hộ và mọi người được phép sử dụng nhưng quyền nhân thân, quyền tác giả vẫn được gắn với con cháu trong dòng họ gìn giữ hương hỏa.

Ở Việt Nam, cách tiếp cận này còn khá mới. Nhưng với những di sản như Truyện Kiều, di sản của dòng họ Nguyễn Huy, Tô Ngọc Vân hay Bùi Xuân Phái… câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ quản lý và khai thác những tài sản đó như thế nào.

Theo tôi, về nguyên tắc, quyền thừa kế đối với những sản phẩm trí tuệ do tác giả tạo ra sẽ thuộc về con cháu của họ, kể cả khi không có di chúc hoặc văn bản được chứng thực. Khi thời hạn bảo hộ gắn với quyền nhân thân đã kết thúc, quyền tài sản đối với di sản vẫn có thể được chuyển sang dòng họ như một tài sản thừa kế.

Vì vậy, pháp nhân muốn tiếp tục khai thác những tài sản này phải được dòng họ ủy quyền và phải là pháp nhân được pháp luật thừa nhận”, bà Phương nói.

Từ nhận diện tài sản đến xác lập chủ thể quyền

Trong bối cảnh đó, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Quốc hội vào tháng 10/2026 được kỳ vọng sẽ giải quyết nhiều “vùng xám” liên quan đến bản quyền tại Việt Nam.

Dự thảo phân biệt “tài sản trí tuệ gốc” với “tài sản trí tuệ phái sinh”, đồng thời lần đầu đưa ra khái niệm “tài sản trí tuệ gốc trọng điểm”.

Theo dự thảo, tài sản trí tuệ gốc trọng điểm phải đồng thời có giá trị văn hóa, xã hội, nghệ thuật, lịch sử hoặc sáng tạo đặc sắc, góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; có tiềm năng phát triển thành hệ sinh thái sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có giá trị kinh tế và xã hội; đồng thời có tiềm năng trở thành thương hiệu văn hóa quốc gia, tạo tác động lan tỏa trong nước và quốc tế một cách bền vững, lâu dài.

Tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm chèo, tuồng, cải lương, múa, múa rối, múa đương đại, ba lê,.. được bảo hộ quyền tác giả

Đáng chú ý, dự thảo không chỉ dừng ở việc gọi tên tài sản trí tuệ. Một số cơ chế được đề xuất nhằm hỗ trợ quản lý, lập hồ sơ, định giá, giao dịch và khai thác tài sản này. Trong đó, tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa được đề xuất có thể dùng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng; đồng thời dự thảo đặt ra việc xây dựng hồ sơ tài sản trí tuệ và cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực định giá.

Nhiều người đánh giá đây là điểm vượt trội của dự thảo. Tuy nhiên, dự thảo luật đã gọi tên được sản phẩm trí tuệ tài sản trí tuệ gốc nhưng vẫn chưa gọi tên được chủ thể của tài sản trí tuệ gốc. Đó là những lớp quyền bảo hộ đã được các nước ở phương Tây, Trung Quốc đã thực hiện.

Giám tuyển Lý Đợi cho rằng, khi xây dựng các quy định về tài sản trí tuệ trong công nghiệp văn hóa, không thể chỉ giải quyết những tác phẩm mới được tạo ra từ hiện tại. Chính sách cần tính đến cả “quá khứ của bản quyền”, quyền thừa kế, quyền phái sinh và những vấn đề phát sinh khi tác phẩm bước vào khai thác thương mại.

“Chúng ta cần một cơ chế có thể trả lời được những câu hỏi: Tác phẩm vô chủ sẽ ứng xử thế nào? Tác phẩm thuộc diện thừa kế thì ai có quyền? Tác phẩm đang lưu thông trên thị trường thì quyền được xác định ra sao? Ai được khai thác và lợi ích phát sinh được chia thế nào? Định giá tài sản văn hóa không chỉ là định giá tác phẩm bao nhiêu tiền, mà còn phải xác định được cấu trúc quyền. Một tác phẩm được bảo tàng lưu giữ không có nghĩa bảo tàng mặc nhiên nắm toàn bộ quyền khai thác hình ảnh của tác phẩm. Tương tự, một tác phẩm được chuyển giao, hiến tặng hay mua bán cũng không đồng nghĩa mọi quyền đối với tác phẩm đều tự động chuyển theo”, ông nói.

Bạch Dương

Nguồn ANTG: https://cand.vn/tu-hoang-hau-cuoi-cung-den-bai-toan-quyen-tai-san-tri-tue-post822135.html