Từ hợp tác quốc tế đến tự chủ công nghệ y sinh: Bài học từ Hàn Quốc

Hội nghị Thượng đỉnh Sinh học thế giới 2026 tại Hàn Quốc cho thấy trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội mới trong nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe. Với Việt Nam, bài học quan trọng không chỉ là tiếp nhận công nghệ tiên tiến, mà còn là tận dụng hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực, xây dựng năng lực nghiên cứu và từng bước làm chủ công nghệ y sinh theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.

Ứng dụng Bach Mai Care đã vượt mốc một triệu người dùng và được tích hợp xác thực qua VNeID. Ảnh: Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc

Ứng dụng Bach Mai Care đã vượt mốc một triệu người dùng và được tích hợp xác thực qua VNeID. Ảnh: Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc

Hàn Quốc: Hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực công nghệ

Hợp tác quốc tế đang trở thành một trong những con đường quan trọng giúp các quốc gia nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ y sinh, đặc biệt trong bối cảnh AI làm thay đổi nhanh chóng lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Ngày 21/10, Hội nghị Thượng đỉnh Sinh học thế giới 2026 khai mạc tại Seoul, Hàn Quốc, với chủ đề “Lan tỏa đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ sinh học và chăm sóc sức khỏe thông qua AI”. Sự kiện quy tụ đại diện các chính phủ, tổ chức quốc tế, giới khoa học và doanh nghiệp, tập trung thảo luận những cơ hội và thách thức khi ứng dụng AI vào nghiên cứu thuốc, phát triển liệu pháp điều trị và nâng cao hiệu quả hệ thống y tế.

Trong lĩnh vực y sinh, AI không còn chỉ được nghiên cứu để hỗ trợ chẩn đoán bệnh, mà đang mở rộng sang phân tích dữ liệu sinh học, tìm kiếm hợp chất tiềm năng, mô phỏng quá trình phát triển bệnh và hỗ trợ thiết kế thử nghiệm lâm sàng. Những ứng dụng này có thể giúp rút ngắn một số công đoạn nghiên cứu, giảm chi phí và mở rộng khả năng phát hiện phương pháp điều trị mới. Tuy nhiên, tiềm năng công nghệ không đồng nghĩa với hiệu quả được bảo đảm. Việc ứng dụng AI trong y tế vẫn đòi hỏi dữ liệu đáng tin cậy, kiểm chứng khoa học, đánh giá an toàn và những quy trình quản lý nghiêm ngặt.

Kinh nghiệm đáng chú ý từ Hàn Quốc là kết hợp hợp tác quốc tế với xây dựng năng lực công nghệ trong nước, thay vì chỉ tiếp nhận những thành tựu sẵn có từ bên ngoài. Quốc gia này tham gia các chương trình nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật, qua đó tạo điều kiện phát triển đội ngũ chuyên gia và năng lực thực hành. Một minh chứng là Trung tâm Đào tạo Nhân lực Sản xuất Sinh phẩm Toàn cầu (GTH-B) đặt tại Hàn Quốc, được triển khai trong khuôn khổ sáng kiến hợp tác với Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Theo thông điệp của Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus tại hội nghị, sáng kiến đã đào tạo hơn 4.000 lượt học viên trên thế giới, góp phần xây dựng đội ngũ chuyên gia phục vụ sản xuất sinh phẩm, tăng cường an ninh y tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Giá trị của mô hình này không chỉ nằm ở số lượng người được đào tạo, mà còn ở việc chia sẻ kiến thức, quy trình kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức sản xuất. Đây là những yếu tố giúp các quốc gia tham gia từng bước nâng cao năng lực tự triển khai và phát triển công nghệ.

Từ trường hợp Hàn Quốc có thể rút ra một bài học: Hợp tác quốc tế chỉ tạo ra nền tảng tự chủ lâu dài khi kết quả hợp tác được chuyển hóa thành năng lực của đội ngũ trong nước. Việc tiếp cận thiết bị hiện đại hoặc giải pháp công nghệ tiên tiến là cần thiết, nhưng chưa đủ nếu thiếu chuyên gia có khả năng vận hành, kiểm chứng, cải tiến và tiếp tục nghiên cứu. Đối với những lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như công nghệ sinh học và AI y sinh, đầu tư cho con người phải đi cùng đầu tư cho hạ tầng và các chương trình nghiên cứu dài hạn.

Phó giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Phương, Trưởng khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN

Phó giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Phương, Trưởng khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng làm việc trong phòng thí nghiệm. Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN

Việt Nam: Từ chuyển đổi số bệnh viện đến nghiên cứu y sinh

Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng chú ý trong chuyển đổi số y tế, nhưng việc làm chủ công nghệ y sinh đòi hỏi bước phát triển sâu hơn về dữ liệu, nhân lực và năng lực nghiên cứu. Những ứng dụng như hồ sơ điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, định danh người bệnh và kết nối dữ liệu giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục và cải thiện trải nghiệm khám chữa bệnh. Tuy nhiên, triển khai phần mềm phục vụ hoạt động bệnh viện khác với khả năng tự nghiên cứu thuật toán, phát triển công nghệ sinh học hoặc kiểm chứng những giải pháp y tế mới.

Thực tiễn tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy liên thông dữ liệu đang tạo nền tảng quan trọng cho quá trình hiện đại hóa dịch vụ y tế. Trong tham luận gửi Hội thảo “Kết nối thông minh - Kiến tạo hệ sinh thái số”, tổ chức ngày 14/10 tại Hà Nội, Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tại bệnh viện đã vượt 70%; ứng dụng Bach Mai Care, có tích hợp xác thực qua VNeID, đạt hơn một triệu người dùng.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Cơ, mục tiêu chuyển đổi số không chỉ là thay thế giao dịch tiền mặt, mà còn hướng tới kết nối thông tin xuyên suốt quá trình khám chữa bệnh, từ đăng ký khám, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh đến thanh toán và mua thuốc. Ông kiến nghị chuẩn hóa việc liên thông dữ liệu theo thời gian thực giữa bệnh viện, ngân hàng và các nền tảng thanh toán; lấy trải nghiệm người bệnh làm trung tâm, đồng thời bảo đảm an toàn dữ liệu trong quá trình mở rộng kết nối.

Những đề xuất này trước hết phục vụ quản lý và cung cấp dịch vụ y tế, nhưng cũng gợi mở một điều kiện quan trọng đối với nghiên cứu AI y sinh: Dữ liệu phải chính xác, có khả năng kết nối và được quản trị chặt chẽ. Đối với nghiên cứu chuyên sâu, yêu cầu còn cao hơn, bao gồm kiểm định chất lượng dữ liệu, bảo đảm tính đại diện, bảo vệ quyền riêng tư và tuân thủ những quy trình về đạo đức nghiên cứu.

Ở phạm vi toàn quốc, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết 100% cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai tiếp nhận người bệnh bằng căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng định danh điện tử VNeID. Trong sáu tháng đầu năm 2026, Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế thực hiện hơn 405,3 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bằng số định danh cá nhân hoặc căn cước công dân. Những kết quả này cho thấy tiến bộ trong kết nối dữ liệu, giảm giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, dữ liệu phục vụ quản lý và thanh toán chưa thể thay thế dữ liệu nghiên cứu y sinh. Để phát triển thuật toán hỗ trợ chẩn đoán, nghiên cứu thuốc hoặc những giải pháp công nghệ sinh học, Việt Nam cần các bộ dữ liệu chuyên ngành được chuẩn hóa, kiểm định về chất lượng và sử dụng trong khuôn khổ pháp lý phù hợp. Đồng thời, phải có phòng thí nghiệm, hạ tầng tính toán và đội ngũ kết hợp kiến thức y học với khoa học dữ liệu. Đây là bước chuyển từ số hóa quy trình sang tạo lập tri thức và phát triển công nghệ.

Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bệnh viện, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Bệnh viện có thể xác định những vấn đề thực tiễn cần giải quyết; các cơ sở nghiên cứu phát triển và kiểm chứng giải pháp; doanh nghiệp tham gia hoàn thiện công nghệ, tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm vào ứng dụng. Nếu thiếu sự liên kết, kết quả nghiên cứu có nguy cơ dừng lại ở phòng thí nghiệm, trong khi nhu cầu thực tế của hệ thống y tế chưa được đáp ứng.

Nghị quyết 57 và con đường làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đối với lĩnh vực y sinh, tinh thần này cần được cụ thể hóa bằng việc chuyển từ tiếp nhận, ứng dụng công nghệ sang từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ những công nghệ thiết yếu. Tự chủ không có nghĩa phải tự sản xuất mọi thiết bị hoặc giải pháp, mà là có đủ năng lực lựa chọn, đánh giá, tiếp nhận, cải tiến và phát triển công nghệ phù hợp với nhu cầu trong nước.

Trước hết, hợp tác quốc tế cần gắn với đào tạo nhân lực và chuyển giao năng lực thực chất. Việt Nam có thể ưu tiên các chương trình nghiên cứu chung, đào tạo chuyên gia, tiếp nhận quy trình kỹ thuật và phát triển phòng thí nghiệm. Các thỏa thuận hợp tác cần xác định rõ trách nhiệm đào tạo đội ngũ trong nước, quyền tiếp cận công nghệ, cơ chế chia sẻ kết quả nghiên cứu và quyền sở hữu trí tuệ. Bài học từ sáng kiến đào tạo sinh phẩm của WHO tại Hàn Quốc cho thấy đầu tư cho nhân lực là điều kiện quan trọng để những thành quả hợp tác tiếp tục phát huy giá trị lâu dài.

Tiếp đó, cần phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung, tránh đầu tư phân tán và trùng lặp. Nghiên cứu AI y sinh đòi hỏi thiết bị chuyên sâu, năng lực tính toán và hệ thống dữ liệu được quản trị an toàn. Nếu mỗi đơn vị đầu tư riêng lẻ, nguồn lực có thể bị chia nhỏ, trong khi nhiều nhóm nghiên cứu vẫn thiếu điều kiện triển khai. Các trung tâm nghiên cứu dùng chung, với quy định rõ về quyền truy cập, bảo mật và trách nhiệm sử dụng, sẽ tạo điều kiện để bệnh viện, trường đại học và doanh nghiệp phối hợp phát triển công nghệ.

Đặc biệt, nhiệm vụ nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, thay vì chạy theo những công nghệ mới chỉ có giá trị trình diễn. Việt Nam có thể lựa chọn các hướng ưu tiên như hỗ trợ phát hiện bệnh sớm, nâng cao hiệu quả xét nghiệm, nghiên cứu bệnh truyền nhiễm và phát triển công nghệ điều trị phù hợp với điều kiện trong nước. Mỗi chương trình cần được đánh giá bằng kết quả khoa học, tính an toàn, khả năng ứng dụng và lợi ích thực tế đối với người bệnh. Những tiêu chí này cũng giúp hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu sản phẩm có khả năng triển khai.

Nói tóm lại, từ kinh nghiệm Hàn Quốc, có thể thấy hợp tác quốc tế chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 57, đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân.

Thành Nam/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/tu-hop-tac-quoc-te-den-tu-chu-cong-nghe-y-sinh-bai-hoc-tu-han-quoc-post1396216.html