Từ ký ức vùng tự do đến Chiến dịch 500 ngày đêm: Bài cuối: Thắp lửa tri ân trong trái tim thế hệ trẻ
Hình ảnh của Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt Liệt sĩ (HCLS) giống như bản lề khơi lại ký ức cũ trong tâm hồn bao người lính tóc đã bạc phơ. Nhiều cựu chiến binh nhớ lại những khoảnh khắc rời vùng tự do xuống vùng địch kiểm soát. Khi rút quân về, có những người lính nằm lại đâu đó giữa chiến trường, để rồi suốt bao năm qua nhiều người vẫn miệt mài kiếm tìm.
Dưới bóng hỏa châu
Năm 1974, những vùng tự do, vùng giải phóng ở tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục mở rộng về phía Đông. Đêm đêm, ánh đèn hỏa châu ngời ngời trên bầu trời khiến người dân vùng tự do nhìn rõ ánh mắt thao thức của nhau. Thời điểm đó, người lính thông tin Nguyễn Duy Kháng, Nguyễn Văn Kiệt hàng ngày vẫn phát đi bản tin mã hóa từ căn hầm cá nhân tại xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành. Người lính trẻ thỉnh thoảng lại nghe các bà mẹ trong làng đọc câu ca: "Đò đưa sông Vệ nghênh ngang/Bạn hàng nô nức, sao chàng ngồi đây".
Các bà mẹ giải thích rằng vùng đất này từng nằm trên tuyến đường giao thương miền ngược, miền xuôi, ai ai cũng mong chiến tranh nhanh kết thúc để lại thấy bóng con đò xuôi ngược trên dòng sông Vệ. Nhắc tới dòng sông, trong lòng ông Kháng vẫn thấp thoáng khuôn mặt người đồng đội tên Đinh Khắc Đỉnh.
Theo ông Kháng và ông Kiệt, trong suốt những năm tháng trên chiến trường, có những trận đơn vị rời vùng tự do hành quân xuống vùng địch kiểm soát và rơi vào thế sinh tử. Cái tên Đinh Khắc Đỉnh gắn liền với một trận đánh như vậy. Đến tận bây giờ, người thân của đồng đội cũ vẫn liên tục điện thoại, tìm gặp và nhờ đưa trở lại bờ sông, mong sao tìm ra nơi từng chôn cất Liệt sĩ Đinh Khắc Đỉnh.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Kiệt bên hài cốt của đồng đội
Ông Kháng và ông Kiệt kể, trận đánh khốc liệt nhất trước khi Trung đoàn 22 được điều từ Bình Định ra Quảng Ngãi vào năm 1971, đó là lần vượt sông Kim Sơn và sông Lại Giang thuộc khu vực Bồng Sơn để đánh xuống một căn cứ địch. Khi qua sông và hành quân về phía mục tiêu, vượt qua cánh đồng mênh mông thì trời đã hơn 22 giờ đêm. Chỉ huy tính toán lại thì cả đơn vị đã rơi vào thế mắc kẹt. Nếu tiếp tục tiến quân rồi khai hỏa thì trời sẽ sáng, nhưng nếu vượt sông trở về thì cũng không còn kịp nữa.
Chỉ huy đơn vị quyết định cho quân nằm lại giữa vùng địch trên một cánh đồng thuộc huyện Hoài Ân thuộc tỉnh Bình Định, chia thành nhiều tốp ẩn mình trong bụi rậm. Khi trời hừng sáng, địch đã phát hiện và tấn công dữ dội. Một người lính thông tin máu đỏ loang khắp người, anh nói trong tiếng bom đạn gầm xé rằng em không sống nổi nữa, anh đeo nhờ cái máy này để em hy sinh thì người cũng được nhẹ nhõm. Chỉ vài phút sau, những quả bom nổ gần vị trí đó khiến ông Kháng bị cây đè lên người.
Ông Kháng lạc giữa trận địa, tự mò mẫm tìm đường. Những người lính còn sống sót vượt được sông vào buổi chiều tối, riêng thương binh và tử sĩ vẫn nằm lại đâu đó dưới những hố bom. Ông kể có rất nhiều trường hợp như vậy, nên sau Chiến dịch 500 ngày đêm thì việc tìm kiếm vẫn phải tiếp tục.
Võng treo nhà dân
Tại Sài Gòn thời đó, vùng giải phóng và vùng tự do nổi tiếng khắp thế giới là địa danh Củ Chi. Ngoài ra còn có các vùng Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh, Đức Hòa và Đức Huệ thuộc tỉnh Long An. Khu vực Củ Chi có các xã An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, Bình Mỹ; khu vực Hóc Môn có Bà Điểm và 18 thôn vườn trầu; căn cứ Rừng Sác thuộc Cần Giờ; cùng các khu vực thuộc Quận 7 và Nhà Bè. Ký ức của những người lính giải phóng hầu hết đều in sâu hình ảnh chiếc võng đung đưa cùng tiếng cuốc xoáy vào lòng đất.
Khung cảnh vùng tự do thời đó đều giống nhau, đó là người dân làm nhà rất sơ sài, khoảng cách giữa các cột nhà khoảng 2,5m để tiện treo võng nằm ngủ và cũng là nơi Quân giải phóng tới ở lại. Mỗi khi lính ngụy đi càn, địch đều đốt sạch nhà, kêu gọi dân rời bỏ vùng Cộng sản để xuống vùng quốc gia nhằm thực hiện chiến lược tát nước bắt cá.

Tiếng cuốc xoáy vào lòng đất của đội tìm kiếm HCLS, gợi lại ký ức sâu thẳm trong lòng các cựu chiến binh
Ông Kháng và ông Kiệt nhớ lại, năm 1971, nhóm lính của ông treo võng nằm dưới nhà dân ở gần một địa đạo ở xã Hành Thịnh. Ngôi nhà này có một bà mẹ già và cô con gái có nụ cười hiền hậu, ánh mắt thường dõi theo các chú bộ đội. Cô con gái lớn thỉnh thoảng mới ghé về thăm gia đình, cô tên là Nguyễn Thị Như Hoa, Huyện ủy viên huyện Nghĩa Hành phụ trách công tác dân vận.
Cách ngôi nhà của mẹ con cô Hoa vài trăm mét là nhà của ông Nguyễn Sửu. Ngôi nhà xiêu vẹo chỉ còn vài cọc tre vì không có người chăm nom. Sau năm 1954, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, những người hoạt động Cách mạng di chuyển ra Bắc vĩ tuyến 17 chờ ngày tổng tuyển cử toàn quốc thống nhất hai miền. Ông Sửu cùng em trai là Nguyễn Tuấn, cha ruột và cha vợ là ông Lý Tao đều xuống tàu đi tập kết.
Mấy người con ở nhà ông Sửu như gà lạc đàn, dắt díu nhau chạy xuống sống tạm ở khu chợ Quán Lát. Cô con gái lớn trong nhà là Nguyễn Thị Hoa thỉnh thoảng vẫn lén chạy ngược về vùng tự do để thăm ngôi nhà rách nát. Những người đi lại giữa hai vùng như cô Hoa thường được chính quyền vùng giải phóng xây dựng trở thành cơ sở cung cấp thông tin khi nào có hiện tượng lính sắp đi càn.
Tiếng cuốc đêm
"Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh/Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc...", đó là những câu thơ trong bài thơ "Đất quê ta mênh mông" từng được in trong sách giáo khoa. Tuy nhiên ở vùng giải phóng, tiếng cuốc ban đêm không chỉ là tiếng đào hầm nuôi giấu cán bộ, mà còn là tiếng đào huyệt chôn cất bộ đội. Trong Chiến dịch 500 ngày đêm đang diễn ra, tiếng cuốc vang lên cùng với âm thanh của máy cưa và tiếng cắt đá. Âm thanh chan chát của tiếng cuốc vẫn là nỗi ám ảnh sâu nặng nhất đối với những người lính từng qua chiến trường và bám trụ cùng người dân vùng tự do.
Tháng 4/1974, Tiểu đoàn 7 rời xã Hành Thịnh, vượt sông Vệ đi đánh đồn địch ở núi Mồ Côi. Trước khi hành quân, bà con tới đào giúp 6 huyệt mộ chờ sẵn. Tuy nhiên khi rút quân về, anh em khiêng theo 18 tử sĩ. Cả đêm đó, tiếng cuốc lại vang lên chan chát. Những người mẹ khóc vì không ngờ số huyệt mộ lại tăng lên gấp ba. Mẹ Xuân thấy bộ đội hy sinh nhiều quá, xót lòng ra rẫy bẻ một rổ bắp mang về luộc. Bắp mới nhú hạt nên bộ đội gặm cả cùi để hít vị nước bắp thơm lừng. Vậy mà vài ngày sau, những chiếc võng đong đưa dưới nhà dân lại tiếp tục biến mất. Đó là ngày những người lính Quân giải phóng cuốn võng vào ba lô, triển khai hành quân tấn công sang Hòa Vinh, tiếp đến đánh đồn Đá Hai, tấn công sang Đức Hòa, đánh ga Lan Điền rồi tiếp tục tấn công núi Mồ Côi. Cứ mỗi trận đánh như vậy, những huyệt mộ lại lấm tấm xuất hiện nhiều hơn.

Bà Phạm Thị Niên, người dân tộc Hrê bên tấm ảnh chụp trực thăng 2 cánh quạt chở 7.500 người dân Khánh Giang - Trường Lệ xuống khu dồn
Những người lính mới từ Miền Bắc tiếp tục bổ sung vào chiến trường với độ tuổi mỗi ngày một trẻ hơn. Có chiến sĩ khoe với các bà mẹ rằng năm nay quân đội tăng cường lực lượng tới hai đợt, vì thiếu người nên học sinh phải tự khai tăng tuổi để được vào Miền Nam chiến đấu giống như nhân vật anh hùng Pavel Korchagin trong tác phẩm "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn Nikolai Ostrovsky.
Trong lúc vùng tự do Hành Thịnh liên tục cắm chông nghe ngóng thông tin, tại địa danh Khánh Giang - Trường Lệ thuộc xã Hành Tín Đông cũ (nay thuộc xã Thiện Tín, tỉnh Quảng Ngãi), người dân ở khu dồn (khu tập trung) liên tục tìm mọi cách trốn tránh sự kìm kẹp, chạy ngược về quê cũ để bám đất, sản xuất và hướng về Cách mạng. Năm 1967, địch sử dụng trực thăng vận tải Chinook bốc hơn 7.500 người dân vùng Khánh Giang - Trường Lệ đưa xuống gần trung tâm huyện Nghĩa Hành để thực hiện chiến lược chiến tranh, dồn dân vào các khu tập trung nhằm tách dân ra khỏi lực lượng Cách mạng.
Bà Phạm Thị Tây, sinh năm 1956, nhớ lại rằng khi xuống khu dồn thì không có đất canh tác, người nào giỏi buôn bán thì quẩy chiếc đòn gánh chạy chợ lên huyện Minh Long, rồi gánh chè đi ngược về bán ở thị xã Quảng Ngãi. Có lần Quân giải phóng đánh lan xuống, toàn bộ người dân lại kêu gọi nhau trở về buôn làng cũ.
Khánh Giang - Trường Lệ là địa bàn miền núi. Nơi đây được Quân giải phóng lựa chọn làm nơi đặt Bệnh xá C18 cùng nhiều điểm cấp cứu thương binh tiền phương, nhờ đó thương binh tuyến dưới liên tục được chuyển về đây điều trị. Lực lượng thanh niên địa phương và đồng bào Hrê bất chấp hiểm nguy tham gia cáng thương, đào hầm hào trú ẩn và di chuyển thương binh an toàn dưới làn mưa bom, bão đạn. Họ một lòng theo Cách mạng, kiên cường bám làng, giữ đất để bảo vệ các cơ quan đầu não và cơ sở y tế, kiên quyết không vào các ấp chiến lược của địch. Chính vì là vùng đất "xương sống" nuôi giấu Cách mạng, Khánh Giang - Trường Lệ đã trở thành mục tiêu đánh phá điên cuồng của quân viễn chinh Mỹ, dẫn đến vụ thảm sát Khánh Giang - Trường Lệ đau thương ngày 17/4/1969.
Cùng với đó là những thương binh trút hơi thở cuối cùng nơi bệnh xá, trạm cấp cứu giữa vùng núi đá hoang vu cho thấy cái giá quá đắt của hòa bình. Tiếng cuốc đào huyệt mộ chôn cất thương binh qua đời vang lên giữa màn đêm nghe chan chát, lẫn trong đó là tiếng lưỡi cuốc va vào đá núi bật lại, xoáy vào trái tim những người còn sống nỗi đau đến nhói lòng. Họ ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, được tiễn đưa trong bóng tối lặng lẽ của màn đêm lạnh giá. Sự hy sinh và cống hiến của họ là một minh chứng cao đẹp cho tinh thần quân dân gắn bó trong lịch sử dân tộc. Chính sự đùm bọc của Nhân dân và sự hy sinh của người lính trẻ đã hòa quyện làm một, tạo nên sức mạnh giữ nước vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
