Từ lều trọ học 'nuôi chữ' đến ngôi trường của những ước mơ (Bài 2): Vững niềm tin nơi đất khó

Cuối tháng Tư, trở lại những điểm trường vùng cao, câu chuyện 'bám bản, bám lớp' sau những biến động cơ chế, chính sách vẫn được nhắc lại, nhưng đã lắng xuống, không còn nặng nề như trước. Đã có thời điểm, khi một số xã ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, chính sách thay đổi kéo theo không ít chông chênh trong đời sống giáo viên và cả học sinh. Khoảng lặng ấy từng khiến nhiều người lo ngại về sự đứt gãy. Nhưng rồi, qua những điều chỉnh của chính sách, niềm tin dần trở lại, như cách thầy cô vẫn lặng lẽ 'gieo chữ' đi qua bao mùa nắng mưa...

Nhờ nỗ lực của thầy cô, các em học sinh được học trong môi trường tốt hơn. ảnh: Đình Giang

Nhờ nỗ lực của thầy cô, các em học sinh được học trong môi trường tốt hơn. ảnh: Đình Giang

Người “lái đò” vượt chông chênh

Tiếng trống trường ở xã vùng cao Sơn Điện vừa dứt, học trò trở về khu bán trú, còn thầy cô lặng lẽ quay lại dãy nhà công vụ phía sau lớp học. Thầy Phạm Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường THCS Sơn Điện, cho biết: "Đã có thời điểm khu bán trú phải dừng hoạt động, thầy cô cũng dao động trong việc tiếp tục “bám lớp, bám trường”. Năm 2021, khi địa phương ra khỏi vùng khó theo Quyết định 861, không chỉ chính sách đối với học sinh thay đổi, mà thu nhập của giáo viên cũng giảm đáng kể, phụ cấp từ 70% xuống còn 35%. Với giáo viên vùng cao, phần chênh lệch ấy không chỉ là con số, mà là điểm tựa cho một cuộc sống vốn đã nhiều thiếu thốn nơi xa gia đình".

Phía sau sự ổn định hôm nay là những khoảng lặng không dễ gọi tên. Thầy Hoàng Thanh Hải, giáo viên Trường THCS Sơn Điện, trầm ngâm khi nhắc đến gia đình ở quê: "Mẹ già ngoài 80 tuổi, hai con đang tuổi ăn học, vợ chưa có việc làm ổn định. Mỗi tuần, tôi thu xếp về thăm nhà một lần, ba chặng xe; chi phí đi lại mỗi tháng ngót gần nửa tháng lương. Có lúc tôi cũng thấy chạnh lòng”. Vào quãng thời gian thu nhập bị cắt giảm, mọi khoản chi vốn đã chật vật càng thêm áp lực. Những tính toán rất đời thường đã có lúc đặt thầy trước lựa chọn không dễ dàng: tiếp tục bám trường hay tìm một công việc ổn định hơn gần nhà.

Câu chuyện của thầy Hải không phải cá biệt. Khi nhiều xã vùng cao xứ Thanh ra khỏi vùng khó, một bộ phận giáo viên miền xuôi lên vùng cao công tác đã phải trải qua “cú sốc” thích ứng với chính sách. Thầy Nguyễn Bá Thọ, Trường THCS Mường Mìn, xã Mường Mìn, nhớ rõ từng thay đổi: thu nhập giảm sút trong khi chi phí sinh hoạt mỗi ngày một tăng. Còn với vợ chồng thầy Ngô Văn Trường, giáo viên Trường THCS Mường Mìn thì áp lực hiện hữu trong từng bữa ăn, từng khoản chi tiêu: “Con nhỏ đang tuổi học, bố mẹ già yếu ở quê; căn nhà cấp bốn thuê tạm để bám trường trở thành gánh nặng thường trực. Đã có lúc vợ chồng tôi tính chuyện một người chuyển nghề để duy trì cuộc sống”.

Trong hoàn cảnh ấy, điều đáng nói không chỉ là khó khăn, mà là cách thầy cô lựa chọn ở lại, đối mặt và vượt qua. Người cắt giảm chi tiêu, tranh thủ tăng gia; làm thêm cuối tuần, ngoài giờ; có người chấp nhận sống xa gia đình dài ngày để giảm chi phí đi lại. Ngay trong công việc, thầy cô cũng chủ động điều chỉnh cách dạy, cách giữ học trò, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để hạn chế tình trạng bỏ học, bỏ tiết khi điều kiện hỗ trợ không còn như trước. Những điều ấy không có trong bất kỳ bản báo cáo nào, nhưng chính những lựa chọn âm thầm đã giữ cho lớp học không bị đứt gãy qua những giai đoạn khó khăn.

Từ những chông chênh ấy, hôm nay một hướng mở về chính sách đã hình thành, khi xã Sơn Điện và Mường Mìn được đưa trở lại vùng khó theo Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Nói như các thầy cô, đó không phải là sự trông chờ, mà là cảm giác được tiếp sức đúng lúc, khi các chính sách hỗ trợ, từ phụ cấp đến điều kiện dạy học được định hình đúng với thực tiễn đời sống. “Có chính sách hỗ trợ, tăng thêm nguồn thu nhập đứng lớp, mình vơi đi phần nào nỗi lo về kinh tế, tập trung cho việc dạy học trò”, đó là lời chia sẻ của vợ chồng thầy Trường.

Bữa ăn bán trú và “hành trình” giữ trò

Rời câu chuyện về thu nhập và những chông chênh với thầy cô, những tác động của chính sách không dừng lại ở người dạy, mà còn hiện hữu rất rõ trong bước chân đến trường của học sinh. Ở vùng cao, việc giữ các em ở lại lớp nhiều khi bắt đầu từ một bữa cơm trưa. Bữa ăn ấy không chỉ là chuyện no cái bụng, mà là cách níu chân học trò ở lại với lớp. Ở xã Phú Xuân, câu chuyện ấy được đong đếm bằng những bữa cơm của gần 300 học sinh Trường Tiểu học Thanh Xuân. Sau khi ra khỏi vùng khó, cũng là ngày bếp ăn phải dừng lại. Điều các thầy cô lo nhất là lớp học sẽ vơi dần. Và rồi họ chọn một cách làm riêng, vận động xã hội hóa bữa ăn cho học sinh. Ngoài kêu gọi hỗ trợ thiện nguyện, là vận động đóng góp thêm của phụ huynh. Nói mộc như thầy Đặng Xuân Viên, Hiệu trưởng nhà trường, là “đi xin” bữa ăn cho học trò.

Theo thầy Viên, đặc thù địa bàn của xã khi có nhiều bản nằm phía bên kia sông. Mỗi ngày đến lớp các em phải qua đò. Nếu không ở lại lớp việc đi lại là rất chông chênh, nguy hiểm. Thực tế đó chính là động lực để thầy cô tìm giải pháp. Bếp đã đỏ lửa trở lại, bữa ăn vẫn giản dị nhưng đủ để các em ở lại trọn một ngày học. Nhưng không phải nơi nào cũng có điều kiện như vậy. Ở những điểm trường lẻ, nơi chưa có bếp tập trung, việc giữ học trò trở nên mong manh hơn: những nắm cơm mang theo, treo vội trước cửa lớp; những bữa trưa vội vàng dưới hiên; thầy cô tự bỏ tiền mua thêm thức ăn rồi ngồi ăn cùng học trò để kịp giờ dạy buổi chiều... Các thầy nói, đó không phải là hy sinh mà là để giữ lại học trò ở lớp.

Tại xã Sơn Điện, mô hình bán trú cũng đã đi qua những quãng đứt gãy như vậy khi ra khỏi vùng khó. Có thời điểm, khu bán trú được đầu tư khang trang, học sinh ở lại đông đúc, rồi bỗng trở nên vắng lặng khi chính sách thay đổi. Sĩ số lập tức bị ảnh hưởng. Không còn hỗ trợ, nhà trường lại trở về cách cũ: xuống từng bản vận động, cố gắng duy trì mô hình “bán trú dân nuôi” để giữ trò, một cách làm không phải nơi nào cũng đủ điều kiện thực hiện. Gần 30 năm gắn bó với giáo dục vùng cao, thầy Phạm Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường THCS Sơn Điện vẫn nhớ rõ những ngày gây dựng mô hình bán trú. Khi địa bàn ra khỏi vùng khó, khu bán trú thưa vắng học sinh; các em trở về nhà xa, việc quản lý không thường xuyên, tình trạng nghỉ học, bỏ tiết gia tăng. Từ bữa ăn bán trú chuyển sang cơm nắm mang theo, khoảng cách đến lớp học vì thế cũng dài thêm. Nhà trường nỗ lực vận động phụ huynh duy trì, nhưng số lượng học sinh vẫn không ổn định. Từ những bữa ăn chông chênh ấy, theo thầy Thành, trước khi có Quyết định 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo thì Nghị định 66/2025/NĐ-CP của Chính phủ như một lời giải, một chính sách khỏa lấp kịp thời, nhân văn sâu sắc, giải quyết trực tiếp những “rào cản” kinh tế đối với học sinh vùng đặc biệt khó khăn.

Chính sách mới quy định cụ thể việc hỗ trợ học sinh bán trú với các khoản thiết thực như tiền ăn, tiền ở và gạo; đồng thời mở rộng đối tượng thụ hưởng theo hướng linh hoạt, sát thực tế. Nếu trước đây chính sách còn “đóng khung” theo địa bàn đặc biệt khó khăn, thì nay nhiều học sinh vùng cao đã có cơ hội tiếp cận hơn, giảm bớt những khoảng trống từng tồn tại. Không chỉ dừng ở người học, cơ chế tổ chức bán trú trong nhà trường cũng lần đầu được quy định rõ, từ kinh phí nấu ăn đến định mức quản lý học sinh ngoài giờ. Khi nguồn lực được xác lập, bữa ăn bán trú không còn hoàn toàn phụ thuộc vào sự xoay xở, mà từng bước trở thành một phần ổn định trong hoạt động nhà trường. Bữa ăn, chỗ ở được bảo đảm, phụ huynh yên tâm hơn, học sinh có thêm động lực gắn bó với trường lớp. Sĩ số ở nhiều nơi dần ổn định, tình trạng bỏ học giữa chừng được hạn chế. Trong bối cảnh nhiều địa bàn không còn thuộc diện đặc biệt khó khăn, những điều chỉnh chính sách như Nghị định 66 ra đời đã kịp thời tạo lại hành lang cần thiết để ổn định.

Đi qua những ngôi trường vùng cao, điều đọng lại không chỉ là những con số hỗ trợ, mà là cách chính sách đi vào đời sống, chạm tới từng lớp học, từng bữa ăn của học trò. Khi những khoảng trống dần được lấp đầy, câu chuyện giáo dục nơi đất khó không còn dừng lại ở việc “giữ lớp”, mà đang mở ra một chặng đường mới, với những mô hình mới. Ở đó, những chính sách sẽ trở thành động lực tạo nên “đột phá” cho giáo dục vùng cao.

Bài và ảnh: Đình Giang

Bài cuối: “Bước ngoặt” cho giáo dục vùng biên

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/tu-leu-tro-hoc-nuoi-chu-den-ngoi-truong-cua-nhung-uoc-mo-bai-2-vung-niem-tin-noi-dat-kho-285977.htm