Từ lợi thế về năng lượng tái tạo, xác định vị thế trong nền kinh tế
Từ lợi thế về năng lượng tái tạo, Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển một thị trường mới. Tuy nhiên, để phát triển tiềm năng cần vốn, hạ tầng, công nghệ và thể chế cần được giải quyết đồng bộ.

Nhiều ý tưởng, dự án của học sinh, sinh viên tham gia Hội thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2026 hướng đến khả năng ứng dụng trong thực tiễn. Ảnh: Giang Phương – TTXVN
Trong Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có nhấn mạnh đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ lợi thế về năng lượng tái tạo và nhu cầu sử dụng hydrogen hiện hữu, Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển một thị trường mới. Tuy nhiên, để tiềm năng trở thành dự án, bài toán đầu ra, vốn, hạ tầng, công nghệ và thể chế cần được giải quyết đồng bộ, với lộ trình cụ thể từ thí điểm đến mở rộng và thương mại hóa.
Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cho biết, từ định hướng chiến lược đến một thị trường vận hành thực chất là chặng đường đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên. Với vai trò hạt nhân kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, NIC mong muốn tạo không gian để cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư, viện nghiên cứu và trường đại học cùng đối thoại, cùng hành động, qua đó góp phần hình thành thị trường hydrogen sạch của Việt Nam.
Năng lượng hydrogen (hay năng lượng hydro) là nguồn năng lượng quan trọng của tương lai, với ưu điểm lớn nhất là chỉ phát thải ra nước và nhiệt, hoàn toàn không phát thải khí nhà kính như carbon dioxide (CO2). Loại năng lượng này được định hướng ứng dụng mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp nặng, khó điện hóa bằng pin mặt trời/pin lithium truyền thống, chẳng hạn như: vận tải đường dài (xe tải, tàu biển, máy bay), sản xuất thép, và làm nguồn lưu trữ năng lượng quy mô lớn cho lưới điện quốc gia.
Điều đặc biệt là nhu cầu hydrogen sạch sẽ ngày càng lớn vì các tập đoàn công nghiệp nặng buộc phải cắt giảm ô nhiễm để tránh bị phạt thuế carbon, tiêu biểu như ngành sản xuất thép, lọc dầu, hóa chất, phân bón, và vận tải đường dài (tàu biển, máy bay)
Theo Báo cáo “Thị trường hydrogen sạch tại Việt Nam”, nhóm chuyên gia xây dựng báo cáo cho biết, sản lượng hydrogen của Việt Nam hiện đạt khoảng 500 nghìn tấn mỗi năm, đáp ứng khoảng 36% nhu cầu lọc hóa dầu và 64% nhu cầu sản xuất phân bón, song vẫn hoàn toàn là hydrogen từ than và khí tự nhiên; chưa có dự án hydrogen xanh lá hay xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành.
Đặc biệt, Việt Nam có lợi thế về tài nguyên điện gió, điện mặt trời và vị trí thuận lợi cho thương mại với Đông Bắc Á. Tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi trong toàn vùng đặc quyền kinh tế được ước tính khoảng 1.068 GW, lớn nhất trong khu vực ASEAN.
Với bốn nhóm lĩnh vực sử dụng trọng điểm là công nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện và xuất khẩu, ước tính quy mô thị trường hydrogen của Việt Nam có thể đạt khoảng 100 tỷ USD vào năm 2035. Hệ sinh thái hydrogen tại Việt Nam đang từng bước hình thành với sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các đối tác quốc tế và các đơn vị hỗ trợ trong nước.

Dây chuyền sản xuất hiện đại ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại Khu công nghiệp TMTC thuộc Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Minh Phú – TTXVN
Để phát huy lợi thế, theo PGS.TS Phạm Hoàng Lương, chuyên gia tư vấn cho rằng, Việt Nam cần triển khai lộ trình phát triển hydrogen sạch theo từng giai đoạn, gắn mục tiêu hình thành thị trường với mức độ sẵn sàng của dự án, hạ tầng và nhu cầu tiêu thụ.
Trong giai đoạn 2026 - 2028, trọng tâm là xây dựng nền tảng thông qua các dự án thí điểm và trình diễn. Theo đó, cần hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và xúc tiến đầu tư cho các dự án tiềm năng, ưu tiên mô hình kết hợp sản xuất năng lượng tái tạo với tiêu thụ hydrogen tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển và rủi ro thị trường.
Cùng với đó, cần sớm thiết lập các cơ chế ưu đãi đầu tư, ban hành quy chuẩn kỹ thuật, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và thí điểm hợp đồng bao tiêu. Việc huy động ODA, nguồn vốn ưu đãi và vốn JETP cho giai đoạn chuẩn bị dự án cũng cần được đẩy mạnh, đồng thời khởi động các đối tác chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Australia.
Giai đoạn 2028 - 2040 cần chuyển sang mở rộng quy mô thị trường, tập trung hoàn thiện lưới điện, hệ thống lưu trữ, logistics chuyên dụng và các trung tâm hydrogen công nghiệp. Cùng với đó là các cơ chế kích hoạt nhu cầu, chuẩn hóa cấu trúc hợp đồng và phát triển chuỗi cung ứng thiết bị trong nước.
Về dài hạn, giai đoạn 2040 - 2050 hướng tới hình thành các hành lang xuất khẩu hydrogen, amoniac và methanol sạch, mở rộng ứng dụng sang các ngành phát thải lớn và giao thông vận tải. Khi thị trường trưởng thành, các cơ chế cạnh tranh sẽ từng bước thay thế sự phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước.
“Ba giai đoạn cần hướng tới mục tiêu hình thành thị trường hydrogen sạch có sức cạnh tranh, đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và tạo năng lực xuất khẩu trong khu vực”, PGS.TS Phạm Hoàng Lương cho biết.
Còn theo ông Juhern Kim, Trưởng Đại diện quốc gia Viện Tăng Trưởng Xanh toàn cầu (GGGI) tại Việt Nam, phát triển hydrogen cần sự tham gia đồng thời của nhà phát triển dự án, nhà đầu tư, khách hàng sử dụng, đơn vị công nghệ và các đối tác quốc tế. Với một lĩnh vực mới, việc thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh mô hình là cần thiết để từng bước hình thành thị trường.
Cùng với đó, các chuyên gia kinh tế đề xuất tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế cấp phép một cửa, tăng điều phối liên ngành, tạo cầu thị trường, xây dựng công cụ tài chính và hệ thống chứng nhận xuất xứ. Cùng với đó là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ các dự án ưu tiên, đầu tư hạ tầng dùng chung và tăng cường hợp tác quốc tế.
