Từ Nghị quyết 57-NQ/TW đến những đổi thay trong sản xuất, chế biến đặc sản vùng cao

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi giải quyết được những điểm nghẽn cụ thể. Với đặc sản vùng cao, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW đang đặt ra yêu cầu chuyển từ những mô hình công nghệ đơn lẻ sang các giải pháp gắn với cả chuỗi giá trị từ vùng nguyên liệu đến thị trường.

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW đang đặt ra yêu cầu chuyển từ những mô hình công nghệ đơn lẻ sang các giải pháp gắn với cả chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu đến thị trường. (Ảnh: KIM DUNG)

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW đang đặt ra yêu cầu chuyển từ những mô hình công nghệ đơn lẻ sang các giải pháp gắn với cả chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu đến thị trường. (Ảnh: KIM DUNG)

Công nghệ phải giải quyết được bài toán của sản xuất

Các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều sản phẩm được hình thành từ điều kiện tự nhiên đặc thù, nguồn nguyên liệu bản địa và tri thức sản xuất truyền thống. Tuy nhiên, để những sản phẩm này tạo ra giá trị cao hơn, một trong những yêu cầu quan trọng là phải tháo gỡ những điểm nghẽn về năng suất, chất lượng, chế biến, bảo quản và thị trường.

Tại Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” được tổ chức ngày 21/9, ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nghệ hỗ trợ nông nghiệp cho rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở việc thiếu máy móc, mà quan trọng hơn là thiếu một hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với điều kiện và quy mô của từng địa bàn. Thực tế sản xuất còn phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa, chất lượng nguyên liệu chưa ổn định, tổn thất sau thu hoạch còn cao. Trong khi đó, các công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản, chiết xuất, chế biến sâu phù hợp với điều kiện địa phương chưa được áp dụng rộng rãi. Dữ liệu về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn sản phẩm và thị trường cũng còn hạn chế.

Đây chính là nơi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo ra những thay đổi rõ nét. Theo ông Phạm Quyết Tiến, cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp: chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất, cơ giới hóa và áp dụng những công cụ kiểm soát chất lượng đơn giản, phù hợp, phát triển công nghệ sau thu hoạch như sơ chế, sấy, bảo quản, chiết xuất, chế biến sâu. Đồng thời số hóa thông tin vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm, tiêu chuẩn hóa và bao bì sản phẩm.

Điều đáng chú ý là cách tiếp cận công nghệ không đặt nặng việc lựa chọn những thiết bị đắt tiền hay công nghệ phức tạp. Một công nghệ tốt, trước hết phải giải quyết được vấn đề của địa phương, có khả năng vận hành trong thực tế và tạo ra hiệu quả kinh tế có thể đo đếm. Nói cách khác, thước đo của đổi mới sáng tạo không chỉ là một mô hình mới hay một thiết bị hiện đại, mà là khả năng biến tri thức và công nghệ thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và thu nhập.

Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao”.

Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao”.

Câu chuyện của Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm là một dẫn chứng. bà Trần Thị Thúy - Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm cho biết, với vùng nguyên liệu thanh long ruột đỏ khoảng 30ha, hợp tác xã từng đứng trước bài toán quen thuộc của sản xuất nông nghiệp khi nguồn cung tăng, giá giảm, trong khi thanh long lại khó bảo quản trong thời gian dài. Thay vì chỉ phụ thuộc vào việc bán quả tươi, hợp tác xã nghiên cứu sản phẩm bún gạo thanh long. Cùng với đó, hợp tác xã lựa chọn gạo bao thai hồng, khôi phục vùng sản xuất nguyên liệu và đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp nhằm nâng năng suất, giảm lao động.

Từ một sản phẩm nông nghiệp có tính mùa vụ, hướng đi này mở ra khả năng tạo thêm giá trị thông qua chế biến. Nhưng câu chuyện cũng cho thấy một thực tế khác: đổi mới sáng tạo trong sản xuất không thể dừng ở khâu tạo ra sản phẩm. Khi quy mô sản xuất tăng lên, bài toán lại chuyển sang năng lực quản lý, nhân lực kỹ thuật, ghi chép sản xuất, truy xuất nguồn gốc, xây dựng nội dung, bán hàng trên các nền tảng số và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Hợp tác xã cũng chia sẻ những khó khăn rất cụ thể, nhiều hộ thành viên lớn tuổi, việc sử dụng điện thoại thông minh và ghi nhật ký sản xuất còn hạn chế, dây chuyền công nghiệp cần nhân lực kỹ thuật, sản xuất quá nhiều khi chưa có đầu ra sẽ phát sinh tồn kho, nhưng sản xuất quá ít lại khó đáp ứng đơn hàng và duy trì chuỗi cung ứng. Kỹ năng thương mại điện tử và ngoại ngữ cũng trở thành những rào cản khi tiếp cận thị trường nước ngoài. Những vấn đề này cho thấy một yêu cầu quan trọng của tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn với chủ thể trực tiếp sản xuất. Công nghệ nếu không được người dân, hợp tác xã vận hành và làm chủ thì khó tạo ra hiệu quả bền vững.

Đổi mới sáng tạo phải đi cùng thị trường

Nếu công nghệ giúp nâng chất lượng sản phẩm thì chuyển đổi số và thương mại điện tử đang mở rộng không gian thị trường cho những sản phẩm vùng cao. Tuy nhiên, thị trường số cũng đặt ra những yêu cầu mới. Ông Bùi Quang Cường, Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho rằng, thương mại điện tử đang trở thành một không gian quan trọng để giảm khoảng cách địa lý, giúp sản phẩm từ các vùng xa có thể tiếp cận người tiêu dùng rộng hơn. Nhưng cùng với cơ hội là khoảng cách về kỹ năng số.

Đưa một sản phẩm lên mạng vì thế mới chỉ là bước đầu. Bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm, xác định khách hàng mục tiêu, lựa chọn kênh bán hàng, nắm bắt đặc điểm của từng nền tảng, định giá, thanh toán, logistics và chăm sóc khách hàng đều trở thành những mắt xích cần được tổ chức đồng bộ. Từ góc độ này, đổi mới sáng tạo không chỉ diễn ra trong nhà xưởng hay trên đồng ruộng. Đổi mới còn nằm ở cách kể câu chuyện sản phẩm, tổ chức bán hàng, kết nối logistics, xây dựng thương hiệu và tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng.

Nếu công nghệ giúp nâng chất lượng sản phẩm thì chuyển đổi số và thương mại điện tử đang mở rộng không gian thị trường cho những sản phẩm vùng cao.

Nếu công nghệ giúp nâng chất lượng sản phẩm thì chuyển đổi số và thương mại điện tử đang mở rộng không gian thị trường cho những sản phẩm vùng cao.

Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin được xác định là nền tảng để xây dựng niềm tin. Người tiêu dùng không chỉ mua một sản phẩm mà còn quan tâm đến câu chuyện, nguồn gốc và giá trị gắn với sản phẩm đó. Đây cũng là cơ sở để các sản phẩm vùng cao có thể tiếp cận những phân khúc có giá trị cao hơn, trong đó có thị trường quà tặng. Đó cũng là cách để tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW được cụ thể hóa từ những vấn đề rất gần với đời sống sản xuất. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, trong đó người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực và động lực chính.

Với đặc sản vùng cao, con đường phía trước không đơn thuần là đưa thêm máy móc về địa phương. Quan trọng hơn là xây dựng được một hệ sinh thái trong đó công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất, người dân có thể làm chủ, hợp tác xã đủ năng lực tổ chức, doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và thị trường được tính đến ngay từ đầu. Khi đổi mới công nghệ trong sản xuất được nối liền với đổi mới trong chế biến, bảo quản, truy xuất, thương hiệu và phân phối, những sản phẩm vốn mang đậm dấu ấn vùng miền có thêm cơ hội chuyển hóa lợi thế bản địa thành giá trị kinh tế. Khi đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là khái niệm xa xôi, mà trở thành công cụ trực tiếp giúp nâng chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.

KIM DUNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tu-nghi-quyet-57-nqtw-den-nhung-doi-thay-trong-san-xuat-che-bien-dac-san-vung-cao-post990243.html