Từ ngoại giao hôm nay, nhớ đàm phán Hiệp định Paris ngày ấy!

Ngoại giao Việt Nam trong kỷ nguyên mới gợi cho nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhớ tới thời kỳ “vừa đánh, vừa đàm” trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi ngoại giao và quân sự kết hợp với nhau trong chiến dịch để đi đến giải phóng và thống nhất đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng quà Bộ Ngoại giao tại lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng quà Bộ Ngoại giao tại lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Chia sẻ với TG&VN, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên nhận định, thời điểm hiện tại cũng đúng như vậy, giữa hoạt động ngoại giao, quốc phòng, an ninh với kinh tế có sự hòa hợp, phối hợp với nhau như một mặt trận, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường.

Ngay sau Đại hội XIV của Đảng, ngành đối ngoại dường như đã nắm bắt được sứ mệnh mới. Sau Nghị quyết 59 là Nghị quyết 06 được ban hành và gần đây nhất là Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Nguyên Bộ trưởng đánh giá như thế nào về bầu không khí, khí thế của Ngoại giao Việt Nam từ Hội nghị rất thành công vừa qua?

Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 có vị thế hết sức quan trọng, diễn ra ngay sau Đại hội XIV của Đảng và trong bối cảnh Đảng ta quyết định nâng tầm ngoại giao, xác định ngoại giao là lĩnh vực trọng yếu - thường xuyên, ngang tầm với quốc phòng và an ninh.

Do đó, các vấn đề được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Ngoại giao lần này có tính chất rất quan trọng; có những điểm là bước ngoặt của nền ngoại giao trong tình hình thế giới phức tạp như hiện nay. Đảng và Nhà nước giao cho ngành Ngoại giao những nhiệm vụ rất lớn mà tôi cho rằng phải quyết tâm, phải làm cật lực, và đôi lúc phải làm với tinh thần như trong thời kỳ chiến tranh thì chúng ta mới đạt được nhiều kết quả.

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên. (Ảnh: Thành Long)

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên. (Ảnh: Thành Long)

Tôi có nhiều ấn tượng sâu sắc với Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Hội nghị lần đã thảo luận những vấn đề rất trọng yếu, liên quan đến đối ngoại, phát triển đất nước, an ninh và nhiều vấn đề khác.

Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại lễ khai mạc có ý nghĩa quan trọng và là điểm trọng tâm để Hội nghị thảo luận, đưa ra những đánh giá, kết luận.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu nhiều điểm, là những nhiệm vụ căn cốt của ngoại giao. Theo đó, điểm quan trọng thứ nhất là phải nâng tầm nghiên cứu để đánh giá, dự báo chiến lược chất lượng cho Đảng và Nhà nước. Điểm thứ hai là phải làm sâu sắc thêm và hiện thực hóa những cam kết mà chúng ta đã ký với bạn bè quốc tế. Giờ đây, Việt Nam có rất nhiều đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện… bao gồm những nước lớn, quan trọng.

Điểm thứ ba là ngoại giao phải trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói rất đậm về mặt này. Chúng ta phải thực sự đóng góp vào kinh tế, bởi rằng, để làm nên sức mạnh kinh tế của đất nước cần sự quy tụ của tất cả các lực lượng. Điểm thứ tư là phải tăng cường hoạt động đa phương để định vị vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điểm thứ năm mà tôi rất tâm đắc là công tác cán bộ. Hiện nay, cán bộ ngoại giao phải được đào tạo, nâng trình độ lên ngang tầm với nhiệm vụ thì mới giải quyết được những trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Bên cạnh bài phát biểu có ý nghĩa như “kim chi nam” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tôi cũng đánh giá cao ý nghĩa của các tham luận được trao đổi sôi nổi dịp này, nổi bật là bài tham luận của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, trong đó nhấn mạnh sự đồng hành, song hành của quân đội và an ninh với ngoại giao.

Khi Đảng và Nhà nước đã đặt ngang tầm ngoại giao với quốc phòng và an ninh, thì ngoại giao phải nhận thấy trách nhiệm của mình rất lớn. Trong thời bình, ngoại giao chính là “người lính” tiên phong. Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 với sự đồng thuận và quyết tâm cao cho chúng ta thấy rõ tinh thần và khí thế đó.

Theo dõi “ngày hội” đầu tiên của ngành Ngoại giao trong kỷ nguyên mới với nhiều dấu ấn như vậy, nguyên Bộ trưởng có cảm nhận và gợi nhớ về một sự kiện lịch sử nào của ngành Ngoại giao với ý nghĩa tương tự?

Tôi nghĩ đến thời kỳ chúng ta vừa đánh vừa đàm trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tức là ngoại giao và quân sự kết hợp với nhau trong chiến dịch để đi đến giải phóng và thống nhất đất nước. Bây giờ cũng đúng như vậy, giữa hoạt động ngoại giao, quốc phòng, an ninh với kinh tế có sự hòa hợp, phối hợp với nhau như một mặt trận.

Điều đó cho thấy tầm quan trọng của ngoại giao gắn rất chặt với phát triển đất nước hiện nay. Vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mới nhấn mạnh chúng ta cần phải làm thế nào để ngoại giao có một vị trí đặc biệt.

Tôi thấy rằng Hội nghị đã khẳng định một bước chuyển quan trọng. Trước đây, ngoại giao của chúng ta chủ yếu là bảo vệ môi trường hòa bình, theo tôi, có phần nào bị động. Nhưng bây giờ Đảng và Nhà nước giao cho chúng ta phải “kiến tạo”.

Chúng ta không chỉ chờ người khác làm rồi mình vào tham gia, mà bây giờ phải chủ động kiến tạo và tập hợp lực lượng. Muốn kiến tạo, tập hợp lực lượng thì vẫn xoay quanh những trục rất quan trọng: Thứ nhất là giữ gìn hòa bình; thứ hai là đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và thứ ba, rất quan trọng, là đề cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Chính Hội nghị lần này đã xác định rất rõ vai trò kiến tạo của ngoại giao, tức là vai trò tích cực, chủ động. Điều đó chẳng khác gì thời kỳ chống Mỹ cứu nước, khi ngoại giao tham gia Hội nghị Paris.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra hạn chế đáng lưu ý hiện nay không phải là thiếu chủ trương, mà chủ yếu nằm ở khâu cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện. Do đó, bài toán “thực thi, thực chất” là chủ điểm xuyên suốt kỳ Hội nghị Ngoại giao. Nguyên Bộ trưởng có những gợi mở ra sao để tháo gỡ hạn chế này?

Tôi nghĩ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu vấn đề này rất quan trọng. Bây giờ chúng ta phải có những hành động thật sự thiết thực. Ngoại giao hiện nay, như kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các đại sứ đến Hà Nội không chỉ là những nhà ngoại giao đơn thuần, họ còn là những người hiểu biết rất sâu về kinh tế. Họ kết nối doanh nghiệp của nước mình với doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy các hoạt động hợp tác, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường. Ngoại giao Việt Nam cũng phải làm được như vậy.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu rất rõ: Những cam kết ngoại giao phải được biến thành thị trường, thành đầu tư, thành nguồn vốn. Phải làm được như vậy thì những kết quả của ngoại giao mới thực sự đi vào cuộc sống. Điều này đặt ra yêu cầu chúng ta phải hết sức chủ động, nắm chắc tình hình và đặc biệt là nắm bắt được thời cơ. Ngoại giao cần nhạy bén, bởi nếu không nắm bắt được thời cơ, chúng ta khó có thể biến những cơ hội đó thành kết quả cụ thể.

Theo tôi, thành công của Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 không nằm ở văn kiện, cũng không chỉ nằm ở những lời phát biểu hay phân tích sâu sắc, mà quan trọng nhất là trong 2-3 năm tới, chúng ta sẽ thực hiện những điều đã thống nhất như thế nào, bằng cách làm cụ thể ra sao.

Đây là vấn đề đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của đội ngũ cán bộ ngoại giao ở trong nước, cũng như các đại sứ, trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ với nhau.

Từ những định hướng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu, một vấn đề rất quan trọng đặt ra là chúng ta phải cùng với các bộ, ngành thảo luận để tìm ra những điểm nghẽn đang cản trở việc triển khai. Vì sao vốn chưa vào được? Vì sao xuất khẩu còn ách tắc ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác? Những vấn đề đó phải được nhận diện rõ, phải cùng nhau tìm ra nguyên nhân và cách tháo gỡ. Có như vậy, chúng ta mới biến được những thỏa thuận, cam kết ngoại giao thành kết quả cụ thể, tạo ra những giá trị thực chất cho phát triển đất nước và đưa những thành quả của ngoại giao đến gần hơn với cuộc sống.

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngành Ngoại giao, nguyên Bộ trưởng có suy nghĩ như thế nào về vị thế, vai trò và đóng góp của ngoại giao đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới?

Tôi thấy vị trí của ngoại giao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay hết sức quan trọng. Như tôi đã nói, ngoại giao bây giờ đã ở vị trí ngang tầm với quốc phòng và an ninh. Khi có an ninh, có quốc phòng và có một nền ngoại giao tốt, thì vấn đề quan trọng tiếp theo là phải làm cho kinh tế phát triển. Bác Hồ đã nói, ngoại giao giống như tiếng chiêng, cái chiêng có lớn thì tiếng chiêng mới vang xa. Cái “chiêng lớn” ở đây chính là sức mạnh của đất nước, là sự phát triển về kinh tế và mọi mặt. Vì thế, ngoại giao không thể đứng ngoài cuộc. Ngoại giao phải trực tiếp tham gia, phải thực sự dấn thân vào công cuộc phát triển đất nước.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam, ngày 27/1/1973. (Nguồn: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao)

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam, ngày 27/1/1973. (Nguồn: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao)

Điều đó cũng giống như thời kỳ đàm phán Hiệp định Paris. Khi ấy, ngoại giao phải hết sức năng động, sáng tạo và bản lĩnh để đạt được những kết quả có lợi nhất cho đất nước.

Ngày nay, tình hình không còn là cuộc đấu tranh bằng xương máu như trong chiến tranh, nhưng lại là hành trình vươn mình bằng trí tuệ. Đó là trí tuệ! Vì vậy, đội ngũ cán bộ ngoại giao phải có tư duy mới, đúng như yêu cầu của các đồng chí lãnh đạo, phải luôn đổi mới tư duy, cập nhật và nắm bắt được những chuyển động rất nhanh của tình hình thế giới.

“Ngày nay, tình hình không còn là cuộc đấu tranh bằng xương máu như trong chiến tranh, nhưng lại là hành trình vươn mình bằng trí tuệ. Đó là trí tuệ!”, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên.

Nhìn lại chặng đường hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Ngoại giao, tôi thấy ngành đã trưởng thành rất nhiều. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng ngày càng được nâng cao. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điều: Ở vị thế đó, ngoại giao Việt Nam không phải là giữ cân bằng, càng không phải là “đi trên dây”. Vậy thế của ngoại giao Việt Nam hiện nay là gì? Theo tôi, đó là làm sao để không có bất cứ thế lực hay lực lượng nào từ bên ngoài có thể can thiệp vào những quyết định chiến lược của Việt Nam. Nói cách khác, chúng ta phải luôn giữ vững độc lập, tự chủ.

Đây cũng chính là điều Bác Hồ đã căn dặn rất kỹ: Phải độc lập, tự chủ, đồng thời đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; đi cùng với các phương châm: Thêm bạn, bớt thù, biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta càng cần phải thấm nhuần và vận dụng thật tốt trong bối cảnh hiện nay.

Nhiệm vụ phía trước rất nặng nề, nhưng cũng rất vẻ vang. Nguyên Bộ trưởng muốn nhắn gửi thông điệp gì tới ngành Ngoại giao trên con đường phía trước?

Tôi thấy Hội nghị Ngoại giao lần này đã trang bị đầy đủ “vũ khí” cho ngành Ngoại giao, từ cán bộ ngoại giao ở trong nước đến các đại sứ, trưởng cơ quan đại diện, cán bộ ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Giống như một “người lính” trước khi ra trận được trang bị đầy đủ vũ khí và phương tiện, bây giờ vấn đề còn lại là hành động. Phải hành động! Đó là thông điệp quan trọng tôi muốn nhắn gửi.

Hành động ở đây phải thật sự sáng tạo. Không phải hành động một cách đơn giản, máy móc, mà phải hành động ở tâm thế tốt nhất, phù hợp với từng địa bàn, đồng thời đáp ứng đúng những yêu cầu mà đất nước đang đặt ra. Có như vậy mới tạo ra được kết quả cụ thể.

Ví dụ như trước đây, có đồng chí Đại sứ sang công tác địa bàn đã tìm được cách kết nối để đưa các gia đình giàu có ở Ấn Độ sang Việt Nam tổ chức đám cưới. Người giàu Ấn Độ có điều kiện kinh tế rất lớn và họ sẵn sàng chi tiêu cho những sự kiện như vậy. Tôi từng chứng kiến đám cưới rất hoành tráng của một gia đình Ấn Độ ở Vịnh Hạ Long. Hiện nay, du lịch từ Ấn Độ đến Việt Nam ngày càng phát triển, số người Ấn Độ đến Việt Nam ngày càng tăng.

Đó là những cách làm rất sáng tạo, có thể bắt đầu từ những việc nhỏ, nhưng nếu mỗi Cơ quan đại diện, mỗi cán bộ ngoại giao đều chủ động tìm tòi, sáng tạo và làm được những việc cụ thể như vậy, thì những kết quả nhỏ sẽ được cộng lại, trở thành những nguồn lực lớn cho đất nước.

Nghĩ về Bác Hồ - “Tư lệnh Ngoại giao” đầu tiên, nguyên Bộ trưởng có những suy nghĩ như thế nào trong mùa Thu đầu tiên của kỷ nguyên mới?

Thu đang sang, cũng là dịp Quốc khánh sắp đến. Trong những ngày này, chúng ta luôn nhớ đến Bác Hồ, luôn biết ơn vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, một người thầy, người cha, người bác, người ông vô cùng kính yêu của mỗi người dân Việt Nam.

Nhưng đối với ngành Ngoại giao, chúng ta càng có lý do đặc biệt để nhớ và biết ơn Bác Hồ. Bác Hồ là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên. Không bộ ngành nào có vinh dự như vậy, và đó là niềm tự hào rất lớn của ngành Ngoại giao.

Điều thứ hai tôi muốn nói là Bác Hồ rất thương, rất yêu những người làm công tác ngoại giao. Tôi đã được gặp Bác năm 1954 và cảm nhận rất rõ tình cảm của Bác đối với những người làm ngoại giao. Bác là người đã đi tìm đường cứu nước, bôn ba ở nước ngoài suốt 30 năm, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, con người và tích lũy vốn kinh nghiệm đối ngoại vô cùng phong phú. Vì vậy, khi thấy con cháu mình làm công việc ngoại giao, Bác rất quý, rất thương và luôn muốn truyền lại những kinh nghiệm, những bài học của mình cho các thế hệ sau.

Chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc, về Bác Hồ và về ngành Ngoại giao Việt Nam – một ngành ngày càng trưởng thành, phát triển, có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trân trọng cảm ơn nguyên Bộ trưởng!

Hà Phương

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/tu-ngoai-giao-hom-nay-nho-dam-phan-hiep-dinh-paris-ngay-ay-435829.html