Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Đường đi mới cho công nghệ sinh học Huế
HNN.VN - Ba năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã tạo nên những chuyển động đáng chú ý tại Huế. Từ bảo tồn nguồn gen bản địa, nông nghiệp hữu cơ, xử lý môi trường đến công nghệ gen, y học chính xác, dược liệu…, công nghệ sinh học ngày càng đi sâu hơn vào sản xuất và đời sống.

Nghiên cứu khoa học tại Trường ĐH Khoa học, ĐH Huế.
Ba năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã tạo nên những chuyển động đáng chú ý tại Huế. Từ bảo tồn nguồn gen bản địa, nông nghiệp hữu cơ, xử lý môi trường đến công nghệ gen, y học chính xác, dược liệu…, công nghệ sinh học ngày càng đi sâu hơn vào sản xuất và đời sống.
Nhìn từ kết quả ba năm, một câu hỏi lớn đang đặt ra: Vì sao Huế có tiềm lực nghiên cứu khá mạnh, có hệ thống viện - trường - bệnh viện, đội ngũ khoa học và nguồn tài nguyên sinh học phong phú, nhưng số sản phẩm công nghệ sinh học có khả năng tạo thị trường và giá trị kinh tế lớn vẫn chưa tương xứng?
Câu hỏi ấy cũng gợi mở đường đi cho giai đoạn mới. Nếu ba năm qua chủ yếu là tạo nền tảng, thì từ nay đến năm 2030 phải là thời kỳ rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm, từ tiềm lực khoa học đến một ngành kinh tế có khả năng đóng góp thực sự cho tăng trưởng của Huế.
Có nền tảng, thiếu kết nối
Sau khi Nghị quyết 36-NQ/TW được ban hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (nay là Ban Thường vụ Thành ủy Huế) ban hành Kế hoạch 135-KH/TU ngày 5/9/2023 để cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển công nghệ sinh học gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiềm năng, lợi thế của địa phương. Sau ngày 1/7/2025, việc triển khai tiếp tục được duy trì tại các xã, phường, bảo đảm tính liên tục trong điều kiện tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi.
Đặc biệt, khi Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai, công nghệ sinh học được đặt vào một không gian phát triển rộng hơn. Kế hoạch khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo 5 năm 2026-2030 của thành phố xác định công nghệ sinh học cùng trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, vật liệu tiên tiến, năng lượng sạch, robot và tự động hóa thông minh, y dược, di sản số, du lịch thông minh… là những lĩnh vực cần tập trung nguồn lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ.

Kết quả nghiên cứu chuyển giao sản phẩm cho nông dân của Trường ĐH Nông lâm, ĐH Huế.
Điều quan trọng là Huế đã có một hệ sinh thái nghiên cứu mà không phải địa phương nào cũng có. Đó là Đại học Huế với Viện Công nghệ sinh học, Trường Đại học Y - Dược, Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Khoa học; Bệnh viện Trung ương Huế cùng các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp.
Giai đoạn 2021-2025, riêng Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế chủ trì 4 đề tài cấp quốc gia, 9 đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng một chương trình khoa học, công nghệ, 5 đề tài, dự án cấp thành phố và nhiều nhiệm vụ cấp Đại học Huế. Giai đoạn 2023-2026, Viện đào tạo 8 tiến sĩ chuyên ngành Sinh học; trong giai đoạn 2021-2025 công bố 194 bài báo, trong đó có 132 bài quốc tế; có 4 nhóm nghiên cứu mạnh và một nhóm tiêu biểu; đăng ký một sáng chế, 2 giải pháp hữu ích, 2 nhãn hiệu hàng hóa và chuyển giao hơn 7 quy trình.
Những con số ấy cho thấy Huế không thiếu nền tảng khoa học. Điều còn thiếu chính là cơ chế đủ mạnh để kết nối những nguồn lực đang tồn tại thành một hệ sinh thái thống nhất.

Giống sen trắng được triển khai trồng ở hồ Tịnh Tâm sau thời gian nghiên cứu phục hồi
Lợi thế khác biệt từ nguồn gen đến y sinh
Một hướng đi đáng chú ý là công nghệ sinh học ở Huế ngày càng gắn với chính tài nguyên và đặc trưng bản địa.
Nhiều nguồn gen có giá trị như rau má, sen Huế, bưởi thanh trà, bưởi đỏ Hương Hồ, cam Nam Đông, dâu Truồi, cá nâu, cá bống thệ, cá dìa, cá tầm, mai vàng Huế và các nhóm cây dược liệu đã được khảo sát, lưu giữ, khai thác. Một số kết quả đã được chuyển giao vào sản xuất như nhân giống rau má Quảng Thọ, sen Huế, măng tre A Hum; xây dựng vùng nguyên liệu ba kích tím, tràm gió bằng phương pháp nuôi cấy mô…
Đáng chú ý, nhiều nguồn gen và loài đặc hữu, đặc sản của Huế như hoàng mai, sen, thanh trà, gừng, tràm gió, ba kích tím, lan kim tuyến, lươn hoa, cá dìa, bò vàng A Lưới đã được giải trình tự và công bố dữ liệu phân tử trên các cơ sở dữ liệu quốc tế. Giá trị của công việc này không chỉ nằm ở bảo tồn. Dữ liệu nguồn gen còn là cơ sở cho chọn tạo giống, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và phát triển sản phẩm mang bản sắc Huế.
Những công nghệ hiện đại cũng bắt đầu được tiếp cận, trong đó có nghiên cứu ứng dụng hệ thống CRISPR-Cas loại V để tạo cây trồng kháng geminivirus. Trong thủy sản, khoảng 50ha nuôi tôm công nghệ cao đã ứng dụng BioFloc; các chế phẩm sinh học, vi sinh ngày càng được sử dụng trong xử lý nước, đáy ao và phòng bệnh.
Công nghệ sinh học cũng bắt đầu gặp một yêu cầu phát triển rất mới của Huế: kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh. Năm 2024, mô hình canh tác tổng hợp xử lý rơm rạ đạt 56,5ha; nhiều mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi, sản xuất phân hữu cơ, than sinh học được triển khai. Với một đô thị di sản hướng tới phát triển xanh, giảm phát thải, đây không phải câu chuyện phụ trợ mà có thể trở thành một hướng công nghệ quan trọng.
Tuy nhiên, lợi thế có khả năng tạo nên khác biệt lớn nhất cho Huế có lẽ nằm ở y sinh.
Bệnh viện Trung ương Huế đã triển khai xét nghiệm các đột biến gen EGFR, NRAS, KRAS, BRAF trong một số bệnh ung thư bằng kỹ thuật Real-time PCR phục vụ điều trị đích. Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế nghiên cứu ứng dụng droplet digital PCR phát hiện đột biến gen KRAS của DNA khối u lưu hành trong máu ở bệnh nhân ung thư tụy. Bệnh viện Trung ương Huế cũng hướng tới thiết lập labo sinh học phân tử với các máy giải trình tự thế hệ mới NGS để phát hiện các đột biến BRCA1, BRCA2 và nhiều nhóm gen liên quan ung thư, từng bước phục vụ y học chính xác và điều trị cá thể hóa.
Đặt Bệnh viện Trung ương Huế, Đại học Huế và Viện Công nghệ sinh học trong cùng một chuỗi liên kết, Huế hoàn toàn có cơ sở để tập trung mạnh vào công nghệ sinh học y dược - lĩnh vực có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao.

Giải trình tự gen sử dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) tại Bệnh viện Trung ương Huế.
Điểm nghẽn nằm giữa “đề tài” và “sản phẩm”
Kết quả nghiên cứu khá phong phú, nhưng cũng cần thẳng thắn chỉ ra một nghịch lý: chuyển giao và thương mại hóa chưa tương xứng.
Theo Báo cáo sơ kết 3 năm tình hình thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 30/01/2023) Về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới của Thành ủy Huế, giai đoạn 2023-2026, thành phố đã tổ chức nghiệm thu 14/15 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố liên quan công nghệ sinh học, với tổng kinh phí hơn 29 tỷ đồng; trong đó ngân sách nhà nước gần 25,7 tỷ đồng.
Nhưng sau những con số ấy cần đặt thêm những câu hỏi khác: Có bao nhiêu kết quả nghiên cứu đã được doanh nghiệp tiếp nhận? Bao nhiêu công nghệ trở thành sản phẩm? Bao nhiêu sản phẩm đứng được trên thị trường? Bao nhiêu doanh nghiệp được hình thành từ thành quả nghiên cứu?
Báo cáo nhìn nhận việc ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống còn chậm; nhiều mô hình dừng ở quy mô thử nghiệm, chưa nhân rộng. Liên kết doanh nghiệp với tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo chưa chặt chẽ; khả năng thương mại hóa và phát triển thị trường của một số kết quả nghiên cứu còn thấp. Việc hình thành các sản phẩm, ngành hàng công nghệ sinh học có quy mô và sức cạnh tranh vẫn hạn chế.
Đây chính là điểm nghẽn cần được tháo gỡ trước tiên.
Trong giai đoạn mới, đánh giá khoa học không thể chỉ dừng ở số đề tài, hội thảo hay công bố. Cần thêm những thước đo mới: tỷ lệ kết quả nghiên cứu được thương mại hóa; số hợp đồng chuyển giao công nghệ; số sản phẩm ra thị trường; doanh thu từ tài sản trí tuệ; số doanh nghiệp khởi nguồn từ viện, trường; lượng vốn tư nhân đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Hạ tầng cũng là một nút thắt. Đề án Trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia khu vực miền Trung chưa hoàn tất thủ tục phê duyệt; đầu tư phòng thí nghiệm, trang thiết bị chuyên sâu và các nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn còn hạn chế; nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, còn thiếu chuyên gia đầu ngành ở một số hướng chiến lược.
Nếu những điểm nghẽn này không được giải quyết, Huế có thể có những đơn vị nghiên cứu mạnh nhưng vẫn là những “ốc đảo khoa học”, chưa đủ sức tạo thành một hệ sinh thái công nghệ sinh học hoàn chỉnh.

Bệnh viện Trung ương Huế chuyển giao kỹ thuật nội soi can thiệp từ các kết quả nghiên cứu.
Từ ứng dụng công nghệ đến hình thành công nghiệp sinh học
Bối cảnh của Huế hôm nay đã khác thời điểm Nghị quyết 36-NQ/TW được ban hành. Vị thế thành phố trực thuộc Trung ương cùng yêu cầu tạo những động lực tăng trưởng mới cho phép Huế đặt mục tiêu cao hơn: không chỉ là địa phương ứng dụng công nghệ sinh học, mà từng bước trở thành một trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghiệp sinh học của miền Trung.
Báo cáo của Thành ủy Huế đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thiện Đề án Trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia khu vực miền Trung; hoàn thiện, phê duyệt Đề án Khu Công nghệ cao Huế; đầu tư có chọn lọc hệ thống phòng thí nghiệm và đưa ít nhất 10-20 sản phẩm công nghệ sinh học có chất lượng, khả năng cạnh tranh và tiềm năng thương mại ra thị trường.
Ba mục tiêu này cần được đặt trong một chỉnh thể.
Nếu Trung tâm Công nghệ sinh học là hạt nhân nghiên cứu, Đại học Huế là nguồn cung tri thức và nhân lực, Bệnh viện Trung ương Huế là một hạt nhân phát triển y sinh, thì Khu Công nghệ cao phải trở thành không gian đón nhận doanh nghiệp và chuyển công nghệ thành sản phẩm. Giữa những mắt xích ấy phải có các cơ chế ươm tạo doanh nghiệp, thử nghiệm - kiểm định, sở hữu trí tuệ, sản xuất pilot, đầu tư và thương mại hóa.
Huế cũng không nên dàn trải nguồn lực. Từ chính những kết quả đã có, có thể tập trung vào những hướng thật sự có lợi thế: y sinh và y học chính xác; dược liệu và sản phẩm chăm sóc sức khỏe; nông nghiệp - thủy sản công nghệ cao gắn với nguồn gen bản địa; công nghệ sinh học môi trường, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
Quan trọng hơn cả là đưa doanh nghiệp vào trung tâm của chuỗi đổi mới sáng tạo. Báo cáo đã xác định tăng nguồn lực cho phát triển công nghiệp sinh học, lấy doanh nghiệp làm chủ thể, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 36-NQ/TW khi xác định phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng.
Từ “đề tài” đến “sản phẩm”; từ “phòng thí nghiệm” đến “nhà máy”; từ “công bố khoa học” đến “tài sản trí tuệ”; từ “kết quả nghiên cứu” đến “giá trị thương mại” - đó là bước chuyển cần thiết.
Khi nhà khoa học thực sự gặp doanh nghiệp, khi phòng thí nghiệm kết nối được với thị trường, khi nguồn gen, dược liệu, thế mạnh y tế, nông nghiệp và hệ sinh thái đầm phá của Huế được chuyển hóa thành những sản phẩm có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao, công nghệ sinh học sẽ không còn chỉ là một lĩnh vực khoa học cần ưu tiên. Nó có thể trở thành một ngành kinh tế mới, một động lực tăng trưởng mới, phù hợp với con đường phát triển xanh, bền vững và dựa trên tri thức mà Huế đang hướng tới.

