Từ Quốc dân Đại hội Tân Trào đến hành trình 80 năm Quốc hội của dân, do dân và vì dân

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (hay còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào).

Đây là mốc son trong lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam, tiền thân của Quốc hội Việt Nam.

Từ Quốc dân Đại hội Tân Trào tiến tới sự ra đời của Quốc hội khóa I đến nay, Quốc hội đã trải qua 80 năm với 15 khóa.

Quốc hội Việt Nam luôn khẳng định vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam.

Mỗi một nhiệm kỳ của Quốc hội là một quá trình liên tục kế thừa, phát huy giá trị của Quốc dân Đại hội, không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động, khẳng định vị trí, vai trò của một thiết chế đặc biệt quan trọng của bộ máy nhà nước, là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiền thân của Quốc hội Việt Nam

Giữa tháng 8/1945, khi phátxít tuyên bố đầu hàng các nước Đồng minh không điều kiện và lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong cả nước, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13-15/8/1945 để quyết định phát động Tổng khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã khai mạc Đại hội đại biểu Quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào).

 Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất đã cử Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất đã cử Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. (Ảnh: TTXVN)

Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về Nhân dân.

Đại hội đại biểu Quốc dân đã thông qua ba quyết định lớn: nhất trí tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh; thông qua 10 chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện, trong đó, điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Đại hội đã quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài “Tiến quân ca.” Ngày 17/8/1945, Đại hội bế mạc trong không khí sôi nổi của Tổng khởi nghĩa; thay mặt Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước.”

Quốc dân Ðại hội Tân Trào “là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”, mang tầm vóc lịch sử như một Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Ủy ban Dân tộc giải phóng (tức Chính phủ cách mạng lâm thời) của nước Việt Nam được Quốc dân Đại hội bầu ra ngày 16/8/1945 là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam để thực hiện những quyết sách lớn của công cuộc cứu nước và kiến quốc.

Quốc dân Đại hội Tân Trào là một sự kiện lịch sử cách mạng, thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết nhất trí của toàn thể dân tộc trong giờ phút quyết định vận mệnh của đất nước, quyết tâm thực hiện đường lối tổng khởi nghĩa, xóa bỏ chế độ nô dịch thực dân, phong kiến, thi hành chính sách 10 điểm của Việt Minh, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho một chế độ mới.

Đây là thắng lợi lớn của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đánh giá đúng tình hình cách mạng trong nước và thế giới, chớp đúng thời cơ giành chính quyền.

Những quyết nghị đại hội thông qua là bước thực thi dân chủ, xây dựng Nhà nước do nhân dân làm chủ, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước theo tư tưởng của Người ngay trong tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Từ những quyết sách của Đại hội, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề khởi nghĩa giành chính quyền, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 đến thắng lợi hoàn toàn.

 Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Ảnh: TTXVN

Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Ảnh: TTXVN

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp nối thành công của Quốc dân Đại hội, sau khi giành được độc lập, trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình và sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, giai cấp, tôn giáo, chính kiến, đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946.

Chính từ lá phiếu của nhân dân, Quốc hội Khóa I ra đời, đặt nền móng cho thể chế dân chủ mới của Việt Nam. Từ thời khắc lịch sử ấy, Quốc hội ra đời không chỉ là thiết chế quyền lực nhà nước cao nhất, mà còn trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nơi ý chí, nguyện vọng của nhân dân được thể hiện, thảo luận và quyết định một cách dân chủ. Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - được Quốc hội thông qua đã thể hiện rõ tư tưởng vượt thời đại ấy, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân, mở ra truyền thống lập hiến, lập pháp dân chủ, tiến bộ, phù hợp với khát vọng độc lập và tự do của dân tộc.

“Quốc hội của dân, do dân, vì dân”

Từ Quốc dân Đại hội Tân Trào tiến tới sự ra đời của Quốc hội khóa I đến nay, Quốc hội đã trải qua 80 năm với 15 khóa. Mỗi một nhiệm kỳ hoạt động Quốc hội là quá trình liên tục kế thừa, không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chiến lược trong từng giai đoạn cách mạng.

Thành tựu của 15 nhiệm kỳ Quốc hội được kết tinh trong hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ và hoàn thiện, tạo dựng hành lang pháp lý cho sự phát triển toàn diện của đất nước.

Trong quá trình đó, Quốc hội Việt Nam luôn khẳng định vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam.

Thành tựu của 15 nhiệm kỳ Quốc hội được kết tinh trong hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ và hoàn thiện, tạo dựng hành lang pháp lý cho sự phát triển toàn diện của đất nước.

Các đạo luật ngày càng hướng tới phục vụ nhân dân tốt hơn, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị quốc gia hiện đại.

Hoạt động giám sát tối cao ngày càng đi vào thực chất, tập trung vào những vấn đề thiết thân với đời sống xã hội, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước và củng cố niềm tin của cử tri. Hoạt động đối ngoại được mở rộng, đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

 Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhiều lần nhấn mạnh rằng đồng hành cùng dân tộc suốt 80 năm qua, Quốc hội không ngừng đổi mới, khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và để lại những dấu ấn quan trọng, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Trong số đó, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021-2026) là nhiệm kỳ đặc biệt, có khối lượng lập pháp tăng gấp nhiều lần so với các nhiệm kỳ trước, với nhiều nội dung hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ.

Với 19 Kỳ họp - nhiều nhất trong các khóa Quốc hội đã thể hiện tinh thần “Quốc hội họp mỗi khi Nhân dân cần, đất nước cần.”

Đặc biệt, Quốc hội đã chủ động đổi mới tư duy xây dựng luật, hoàn thành khối lượng công tác lập pháp kỷ lục với 150 luật, 49 nghị quyết quy phạm pháp luật được thông qua. Hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ, minh bạch, khả thi, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Năm 2025, thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy và quy trình lập pháp.

Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến và quyết định khối lượng công việc rất lớn, có ý nghĩa lịch sử, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hoàn thiện thể chế và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, vừa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn, vừa kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho giai đoạn mới.

Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp năm mới 2026, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh: “Riêng Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua 34 luật và 14 nghị quyết quy phạm pháp luật; đến Kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiếp tục lập dấu mốc lịch sử khi xem xét, thông qua 51 luật và 8 nghị quyết quy phạm pháp luật, chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ, là minh chứng sinh động cho tinh thần pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của nhân dân làm thước đo của chính sách.”

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của Quốc hội càng được đặt ra với những đòi hỏi cao hơn về chất lượng lập pháp, hiệu lực giám sát và tính quyết đoán trong các quyết sách chiến lược.

Thông điệp xuyên suốt được lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhấn mạnh là: Quốc hội phải thực sự là hiện thân sinh động của ý chí Nhân dân, là trụ cột của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước bền vững.

Nhìn lại hành trình 80 năm của Quốc hội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, đó là "một hành trình kiên định, sáng tạo và không ngừng đổi mới… Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, rồi thời kỳ thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bước vào công cuộc Đổi mới và hội nhập sâu rộng, Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, là nơi những quyết sách trọng đại thể theo ý chí và nguyện vọng của Nhân dân được thảo luận dân chủ, thông qua thận trọng, triển khai quyết liệt.”

 Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Đồng thời, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng yêu cầu: “Từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường, từ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đến mục tiêu phấn đấu “Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu,” chúng ta đang đi trên một hành trình nối dài khát vọng.

Trên hành trình đó, Quốc hội phải đi trước một bước về thể chế; phải dám mở đường, dám sửa đường, dám quyết định những vấn đề khó, những việc mới, những lĩnh vực chưa từng có tiền lệ.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt, biến đổi khí hậu phức tạp, khoa học, công nghệ bứt phá, chúng ta không thể “đi sau, về muộn.” Chúng ta phải “đi cùng thời đại”, thậm chí “đi tắt đón đầu”, “đi trước mở đường” ở những lĩnh vực đặc thù. Chúng ta phải lấy khoa học - công nghệ, tinh thần, trí tuệ Việt Nam nền tảng, làm “đột phá khẩu”, phải tập trung phát triển dữ liệu mở; chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; năng lượng tái tạo và công nghệ tiết kiệm năng lượng; công nghiệp bán dẫn; công nghệ sinh học; logistics thông minh; nông nghiệp xanh, tuần hoàn; du lịch chất lượng cao; y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe toàn dân.”

Yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc Quốc hội phải “đi trước một bước về thể chế” không chỉ là một chỉ đạo chiến lược, mà còn là niềm tin, kỳ vọng lớn lao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (2026-2031)./.

 Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/tu-quoc-dan-dai-hoi-tan-trao-den-hanh-trinh-80-nam-quoc-hoi-cua-dan-do-dan-va-vi-dan-post1086790.vnp