Từ sản xuất nông sản đến làm kinh tế nông nghiệp

HNN - TP. Huế đã có những vùng sản xuất hàng hóa, những hợp tác xã (HTX), sản phẩm OCOP và nhiều mô hình liên kết. Nhưng vì sao nông nghiệp vẫn chưa hình thành được những ngành hàng đủ lớn? Có lẽ câu trả lời không chỉ nằm ở việc trồng cây gì, nuôi con gì, mà ở cách nhìn sản phẩm sau khi rời ruộng, vườn, ao hồ và cánh rừng.

Chuối già lùn ở các xã A Lưới đã có thương hiệu, sản phẩm OCOP và đầu ra tại một số nhà hàng, trường học. Ảnh: Trần Hải 

Chuối già lùn ở các xã A Lưới đã có thương hiệu, sản phẩm OCOP và đầu ra tại một số nhà hàng, trường học. Ảnh: Trần Hải 

Nâng giá trị sản phẩm

Rau má Quảng Điền là một ví dụ. Đã có vùng trồng, HTX, thương hiệu và sản phẩm chế biến. Riêng vùng Quảng Thọ cũ hiện có khoảng 70ha, trong đó 52ha VietGAP và 1,5ha hữu cơ, sản lượng bình quân 2.500 - 2.800 tấn/năm. Nhưng giá trị của rau má không chỉ dừng ở rau tươi, trà hay bột.

Các nghiên cứu của Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế đã xác định, trong rau má có những hợp chất có giá trị, trong đó có asiaticoside. Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế cùng các nhà khoa học Đại học Kent và University College London (Vương quốc Anh) tiếp tục nghiên cứu rau má Quảng Thọ, tập trung vào madecassic acid và các triterpenoid khác, hướng tới nâng hàm lượng hoạt chất thông qua giống, kỹ thuật canh tác và xử lý sau thu hoạch.

Đây là hướng nghiên cứu về hoạt chất, không đồng nghĩa với việc rau má có tác dụng chữa ung thư. Nhưng nó cho thấy một hướng đi khác: Nếu xây dựng được vùng nguyên liệu có chất lượng và hàm lượng hoạt chất ổn định, rau má có thể trở thành nguyên liệu cho thực phẩm dinh dưỡng, mỹ phẩm hoặc dược phẩm.

Bên cạnh rau má, sen Huế có một lợi thế không phải nông sản nào cũng có: Vừa là cây trồng, vừa là thực phẩm, đồng thời gắn với hình ảnh và văn hóa Huế.

Với diện tích có thể mở rộng trên 750ha, sen có thể cung cấp nguyên liệu cho ẩm thực, du lịch và thị trường quà tặng. Hoa, hạt, tim, củ, ngó, trà, bột đều có thể trở thành sản phẩm; thân sen còn có thể làm sợi dệt.

Vấn đề không phải Huế thiếu sản phẩm từ sen. Cái thiếu là một chuỗi đủ hoàn chỉnh từ giống, vùng trồng, môi trường nước, thu hái, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ.

Nếu phải chọn một ngành hàng đã có nguyên liệu, thương hiệu và thị trường ban đầu, sen xứng đáng được ưu tiên. Bài toán tiếp theo là kéo dài giá trị của sen quanh năm, thay vì chỉ bán theo mùa.

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Chuối ở A Lưới, Khe Tre; cam Nam Đông, Long Quảng đều có lợi thế về nhu cầu thị trường. Tại các xã A Lưới, 200ha chuối già lùn đã có thương hiệu, sản phẩm OCOP và đầu ra tại một số nhà hàng, trường học. Song, muốn vào siêu thị, không thể mỗi hộ sản xuất một kiểu. Thị trường cần quả đồng đều về giống, kích cỡ, độ chín, an toàn thực phẩm và quan trọng là phải có hàng đều đặn.

Vì vậy, câu chuyện của chuối, cam không nằm ở việc trồng thêm bao nhiêu ha, mà ở cách tổ chức vùng nguyên liệu, thu mua, phân loại, đóng gói, bảo quản và ký hợp đồng tiêu thụ dài hạn.

Cá trắm sông Bồ là một ví dụ về việc có thể tạo thêm giá trị từ một sản phẩm quen thuộc. Năm 2025, riêng Quảng Điền có 848 lồng cá, sản lượng khoảng 360 tấn. Cộng thêm các phường, xã: Hương Trà, Kim Trà, Đan Điền, Hóa Châu, sản lượng còn lớn hơn.

Với hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai lớn nhất Việt Nam cùng mạng lưới sông ngòi phong phú, Huế còn có nguồn thủy sản nước lợ đa dạng, từ cá dìa, cá kình đến tôm, cua, trìa... Nhưng nhiều tôm, cá không đồng nghĩa với nhiều tiền. Nếu đến mùa thu hoạch vẫn chủ yếu bán tươi cho thương lái, người nuôi khó tránh cảnh được mùa thì giá xuống.

Huế lại có một lợi thế rất riêng: Ẩm thực. Vì vậy, cá có thể được nhìn như một nguyên liệu để làm ra những sản phẩm chế biến mang công thức riêng của Huế, tương tự cách tôm chua đã trở thành một sản phẩm đặc trưng. Khi được chế biến, đóng gói an toàn và đưa vào siêu thị, cửa hàng đặc sản, hệ thống quà tặng hay bán trực tuyến, giá trị của sản phẩm sẽ không còn dừng ở một con cá hay ký tôm. Khi ấy, người mua đang mua một món ăn đã được chế biến và mang theo câu chuyện của vùng đất.

Chọn ít ngành hàng để làm đến cùng

Kinh tế nông nghiệp Huế cũng không nên chỉ được tính từ ruộng, vườn và ao hồ. Thành phố có hơn 14.600ha rừng trồng sản xuất gỗ lớn và khoảng 15.000ha rừng được cấp chứng chỉ FSC.

Thị trường tín chỉ carbon mở thêm một hướng mới, nhưng carbon không phải khoản tiền có thể thu ngay từ những cánh rừng đang có. Muốn tham gia thị trường phải có dữ liệu, đo đạc, kiểm chứng và cơ chế chia sẻ lợi ích. Vì vậy, việc chuẩn bị sớm là cần thiết.

Rừng gỗ lớn, FSC và carbon là câu chuyện dài hạn. Giá trị không chỉ nằm ở gỗ mà còn ở lâm sản dưới tán rừng, sinh kế của người dân, khả năng bảo vệ môi trường và góp phần phòng, chống thiên tai.

Đối với sản phẩm OCOP, đến tháng 8/2026, TP. Huế có 118 sản phẩm được đánh giá, nhưng chỉ có 63 sản phẩm từ 3 sao trở lên còn thời hạn, trong đó có 4 sản phẩm 4 sao và 1 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia. Tuy nhiên, thay vì mỗi xã cố có thật nhiều sản phẩm, điều đáng suy nghĩ hơn là hình thành một số ngành hàng đủ lớn để nhiều địa phương cùng tham gia.

Đơn cử, sen có thể liên kết các vùng Phong Điền, Phong Dinh, Phong Thái, Đan Điền, Hóa Châu, Phú Xuân, Dương Nỗ. Chuối theo vùng A Lưới, Bình Điền, Khe Tre, Hưng Lộc. Rau má lấy Quảng Điền làm hạt nhân. Cá trắm gắn với lưu vực sông Bồ, tôm gắn với Tam Giang - Cầu Hai...

Trong 3 - 5 năm tới, Huế có lẽ chưa cần tìm thêm quá nhiều cây, con mới. Điều cần hơn là nhìn kỹ những gì đang có: Sản phẩm nào đã có nguyên liệu và thị trường; sản phẩm nào còn khả năng nâng giá trị, tạo sinh kế trên diện rộng và cần thêm thời gian nghiên cứu.

Từ góc nhìn đó, sen và rau má là những ngành hàng có cơ sở để đi nhanh hơn. Rừng gỗ lớn, FSC và carbon là hướng dài hạn, có sức lan tỏa rộng. Chuối, cam có thể mở rộng nếu tổ chức tốt vùng nguyên liệu và thị trường. Cá trắm sông Bồ, tôm nước lợ có thể đi xa hơn nếu giải quyết được môi trường nuôi và đầu ra.

Huế đã có nhiều nền móng: Vùng nguyên liệu, HTX, thương hiệu, kinh nghiệm sản xuất và sự đồng hành từ Đại học Huế. Điều đáng chờ đợi không phải là một danh sách sản phẩm dài hơn, mà là sự kiên trì với một vài hướng đã được chứng minh.

Khi các nông sản không còn bán theo cách truyền thống như mớ, bó... thì ngành nông nghiệp Huế mới thực sự chuyển đổi từ sản xuất nông sản sang làm kinh tế nông nghiệp.

Nguyễn Đính

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/nong-nghiep-nong-thon/tu-san-xuat-nong-san-den-lam-kinh-te-nong-nghiep-170550.html