Từ vụ Noo Phước Thịnh bị kiện, bàn về nghĩa vụ chứng minh trong tranh chấp sở hữu trí tuệ
Với tính đặc thù của các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, việc thu thập thông tin chứng cứ để xác định người vi phạm nhằm khởi kiện chính xác đối tượng trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn.
Mới đây, HĐXX sơ thẩm TAND TP.HCM đã chính thức tuyên án sơ thẩm vụ kiện Zack Hemsey (nguyên đơn) - Noo Phước Thịnh (bị đơn).
Dù bản án chưa có hiệu lực nhưng vụ kiện đã đặt ra những vấn đề về nghĩa vụ chứng minh trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ (SHTT) theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Phải kiện ai?
HĐXX xác định MV “Chạm khẽ tim anh một chút thôi” đã sao chép trực tiếp một phần bản ghi âm của tác phẩm "The Way" kéo dài 1 phút 25 giây mà không được sự cho phép của ông Zack Hemsey - tức là có hành vi vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, người bị kiện - ca sĩ Noo Phước Thịnh lại được xác định không phải là chủ sở hữu MV “Chạm khẽ tim anh một chút thôi” hay kênh Youtube “Noo Phước Thịnh” nên không được xem là chủ thể có hành vi sử dụng hay xâm phạm quyền tác giả của ông Zack Hemsey. Do đó, Noo Phước Thịnh đã tạm thời đạt được chiến thắng ở cấp xét xử sơ thẩm.

Ca sĩ Noo Phước Thịnh trong MV Chạm khẽ tim anh một chút thôi.
Về lý do kiện nam ca sỹ Noo Phước Thịnh, theo nguyên đơn, Noo Phước Thịnh là chủ sở hữu của MV này và cũng là chủ thể xâm phạm quyền tác giả. Bởi theo nguyên đơn, trong quá khứ Noo Phước Thịnh nhiều lần phát ngôn trên truyền thông rằng mình là người đầu tư kinh phí, công sức và diễn xuất MV này, và MV được đăng trên kênh mang tên “Noo Phước Thịnh”, đi kèm với phần mô tả nêu “Bản quyền thuộc về Nguyễn Phước Thịnh”.
Tuy nhiên, bị đơn cho rằng ông Lê Tuấn Khanh mới là chủ sở hữu của MV “Chạm khẽ tim anh một chút thôi” và kênh Youtube “Noo Phước Thịnh”. Thể hiện qua hai hợp đồng, một hợp đồng giữa ông Khanh và Noo Phước Thịnh trong đó nam ca sỹ đồng ý tham gia MV “Chạm khẽ tim anh một chút thôi” của ông Khanh, và một hợp đồng ông Khanh ký cùng một bên thứ ba cung cấp dịch vụ “quản lý, marketing và khai thác kinh doanh” đối với các nội dung trên kênh Youtube “Noo Phước Thịnh”.
HĐXX sơ thẩm cuối cùng đã xác định bị đơn Noo Phước Thịnh không phải là chủ sở hữu của MV “Chạm khẽ tim anh một chút thôi” và kênh Youtube “Noo Phước Thịnh” dựa trên chứng cứ là các hợp đồng được bị đơn cung cấp và vì nguyên đơn không cung cấp được các chứng cứ chứng minh ngược lại, nên Noo Phước Thịnh không phải là chủ thể xâm phạm quyền tác giả của ông Zack Hemsey với tác phẩm “The Way”.

ThS Nguyễn Hoàng Bảo Khương, Giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TPHCM.
Nghĩa vụ chứng minh trong tranh chấp SHTT
Không bàn về kết quả vụ án, nhưng thông qua đó có thể thấy các tình tiết trong vụ kiện mang những đặc điểm thường thấy trong các tranh chấp SHTT, và đã lặp lại những vấn đề về nghĩa vụ chứng minh để thực thi quyền SHTT. Cụ thể, đó là vấn đề khó khăn trong tiếp cận các tài liệu có liên quan để xác định chủ thể vi phạm và mức thiệt hại thực tế.
Theo Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, trong tranh chấp dân sự, bên có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là bên có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Quy định này xuất phát từ lẽ công bằng và lý do trong thực tiễn đời sống, nguyên đơn và bị đơn trong nhiều trường hợp thường tồn tại một mối quan hệ hợp tác, kinh doanh trước thời điểm xảy ra tranh chấp, do vậy có năng lực để thu thập và cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình. Ví dụ, một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể dựa vào các quy định về quyền lợi của mình trong hợp đồng và các biên lai thanh toán, chứng từ vận chuyển… để khởi kiện bên còn lại trong hợp đồng khi phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Tuy nhiên, trong các tranh chấp SHTT, thường không tồn tại mối quan hệ hợp tác, kinh doanh nào giữa nguyên đơn và bị đơn trước thời điểm xảy ra tranh chấp. Ví dụ như trong vụ kiện Zack Hemsey - Noo Phước Thịnh, nguyên đơn khởi kiện vì cho rằng bị đơn đã sử dụng tác phẩm của mình mà không xin phép, các bên không có mối liên hệ nào trước khi tranh chấp xảy ra.
Vì đặc điểm rất đặc biệt này, nên trong các vụ kiện về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bên yêu cầu thường gặp nhiều khó khăn trong nỗ lực thu thập và cung cấp cho Tòa án các bằng chứng về hành vi xâm phạm quyền SHTT để xác định chủ thể vi phạm và mức bồi thường thiệt hại thực tế.
Ví dụ như vào một ngày đẹp trời, bạn phát hiện bức tranh mình từng vẽ và đăng trên Facebook 5 năm trước được một công ty A sử dụng trong chiến dịch quảng cáo của họ, hành vi xâm phạm quyền tác giả có lẽ là thứ quá rõ ràng, nhưng bạn sẽ không thể nào có được tài liệu nội bộ của công ty A để biết các quảng cáo có chứa bức tranh của bạn được thiết kế bởi công ty A hay một bên thứ ba nào khác, từ đó xác định cần khởi kiện ai.
Đồng thời, bạn cũng không thể tiếp cận với các tài liệu đánh giá các quảng cáo có bức tranh của bạn đã đem lại cho công ty A bao nhiêu lợi nhuận, từ đó tìm ra mức bồi thường thiệt hại thực tế mà bạn có thể yêu cầu.
Trong trường hợp bạn khởi kiện công ty A, nhưng không may thiết kế lại được tạo ra bởi một bên khác, khả năng cao yêu cầu bồi thường của bạn sẽ không bao giờ được chấp nhận, vì đã quá thời hiệu khởi kiện để bạn có thể quay lại kiện đúng chủ thể vi phạm trực tiếp quyền tác giả của mình.
Chính bởi những lý do trình bày bên trên, thiết nghĩ cần có nhiều hơn những nghiên cứu, đề xuất phát triển pháp luật để cải thiện khả năng thu thập, cung cấp chứng cứ của bên có quyền bị xâm phạm trong các tranh chấp SHTT.
Kinh nghiệm từ các quy định pháp luật nước ngoài có thể đóng một vai trò rất hữu ích để tham khảo, ví dụ như chế định “Disclosure” trong pháp luật Vương quốc Anh. Chế định này yêu cầu bên xâm phạm quyền có nghĩa vụ cung cấp tất cả mọi thông tin có liên quan đến vi phạm hoặc phải chịu các chế tài nặng nề.
Bên cạnh đó, việc cân nhắc bổ sung các trường hợp thực thi quyền SHTT vào các trường hợp mà nghĩa vụ chứng minh không được phân phó toàn bộ cho nguyên đơn tương tự như tại điểm a, b khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cũng có thể là một giải pháp hiệu quả để tăng cường năng lực thực thi quyền SHTT của các chủ sở hữu quyền.
Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh
1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
.....











