Tuyên Quang ban hành quy định mới về vùng canh tác hữu cơ

Theo quy định mới, vùng canh tác hữu cơ là vùng sản xuất cây trồng đáp ứng tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ, được UBND tỉnh Tuyên Quang xác định và thông báo rộng rãi. Quyết định áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động canh tác trên vùng canh tác hữu cơ và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tuyên Quang ban hành quy định mới nhằm chuẩn hóa hoạt động canh tác trên vùng canh tác hữu cơ, kiểm soát chặt vùng sản xuất, vật tư đầu vào và quá trình chuyển đổi.

Tuyên Quang ban hành quy định mới nhằm chuẩn hóa hoạt động canh tác trên vùng canh tác hữu cơ, kiểm soát chặt vùng sản xuất, vật tư đầu vào và quá trình chuyển đổi.

UBND tỉnh Tuyên Quang vừa ban hành Quyết định số 77/2026/QĐ-UBND quy định về canh tác trên vùng canh tác hữu cơ trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực từ ngày 11/6/2026, thay thế Quyết định số 14/2021/QĐ-UBND ngày 18/9/2021.

Điểm đáng chú ý của quy định mới là làm rõ nguyên tắc canh tác trong vùng hữu cơ, kiểm soát khu vực sản xuất thông thường xen kẽ, yêu cầu vùng đệm, truy xuất vật tư đầu vào và thời gian chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ.

Một trong những nội dung mới có ý nghĩa thực tiễn là trong giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ, trên vùng canh tác hữu cơ được phép tồn tại đồng thời hình thức canh tác thông thường và canh tác hữu cơ theo lộ trình phù hợp. Tuy nhiên, các hình thức canh tác phải tuân thủ quy định pháp luật về trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ và không được gây ảnh hưởng đến khu vực sản xuất chuyển đổi hữu cơ, khu vực sản xuất hữu cơ.

Đối với canh tác thông thường nằm trong vùng canh tác hữu cơ, tổ chức, cá nhân phải có bờ bao, mương thoát nước riêng; không để nước tưới, nước mưa chảy trực tiếp từ khu vực sản xuất thông thường sang khu vực sản xuất chuyển đổi hữu cơ hoặc khu vực sản xuất hữu cơ. Khu vực sản xuất phải có ranh giới, biện pháp cách ly rõ ràng như rào cản vật lý, bố trí cây trồng khác hoặc khác thời vụ. Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón vô cơ, người sản xuất phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát nguy cơ phát tán sang khu vực hữu cơ.

Quy định này đặc biệt quan trọng trong điều kiện sản xuất thực tế tại Tuyên Quang, nơi nhiều vùng canh tác còn phân tán, xen kẽ giữa các hộ, các phương thức sản xuất và các nhóm cây trồng khác nhau. Nếu không kiểm soát dòng nước, ranh giới thửa ruộng, hướng phát tán thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vô cơ, khu vực hữu cơ rất dễ bị ảnh hưởng bởi hoạt động sản xuất thông thường liền kề, làm tăng nguy cơ mất chứng nhận và giảm niềm tin thị trường.

Đối với canh tác hữu cơ, Quyết định yêu cầu khu vực sản xuất phải được khoanh vùng, có vùng đệm hoặc hàng rào vật lý để tách biệt với khu vực không sản xuất hữu cơ. Đất, nước, không khí trong khu vực sản xuất phải được quản lý, kiểm soát theo quy định. Cơ sở sản xuất phải bảo đảm không sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc diệt cỏ, chất kích thích sinh trưởng, sinh vật biến đổi gen; đồng thời vật tư đầu vào phải đáp ứng tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ và có khả năng truy xuất nguồn gốc.

Không chỉ kiểm soát khâu canh tác, Quyết định còn đặt ra yêu cầu đối với quản lý sinh vật gây hại, trang thiết bị, vật tư nông nghiệp, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển và xử lý chất thải. Sản phẩm hữu cơ và sản phẩm không hữu cơ phải được tách biệt trong toàn bộ quá trình thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản và vận chuyển nhằm phòng ngừa ô nhiễm, nhiễm chéo.

Một nội dung đáng chú ý khác là thời gian chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ. Theo Quyết định, diện tích đang canh tác thông thường chuyển sang canh tác hữu cơ phải có thời gian chuyển đổi tối thiểu 12 tháng đối với cây hằng năm và 18 tháng đối với cây lâu năm. Sản phẩm không được ghi nhãn hữu cơ trong thời hạn 36 tháng kể từ khi sử dụng các chất không được phép trong sản xuất hữu cơ. Thời gian chuyển đổi có thể được rút ngắn nếu có đủ bằng chứng về việc không sử dụng chất cấm trong quá trình sản xuất, nhưng sau khi rút ngắn không được dưới 6 tháng.

Việc quy định rõ thời gian chuyển đổi góp phần làm minh bạch ranh giới giữa sản phẩm hữu cơ, sản phẩm chuyển đổi hữu cơ và sản phẩm sản xuất theo hướng hữu cơ. Đây là vấn đề then chốt trong phát triển thị trường, bởi sản phẩm chỉ có thể được gọi là hữu cơ khi đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, được chứng nhận và ghi nhãn theo quy định. Cách tiếp cận này giúp bảo vệ người sản xuất làm thật, đồng thời tránh tình trạng sử dụng khái niệm hữu cơ một cách tùy tiện, gây nhiễu cho người tiêu dùng.

Về tổ chức thực hiện, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tuyên truyền, phổ biến quy định, tổ chức đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sản xuất trồng trọt hữu cơ. Sở cũng có trách nhiệm phối hợp hỗ trợ kết nối tổ chức, cá nhân sản xuất với doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà đầu tư trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.

Sở Khoa học và Công nghệ được giao phối hợp hướng dẫn, phổ biến, hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Sở Công Thương phối hợp xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Hội Nông nghiệp hữu cơ tỉnh Tuyên Quang tham gia tuyên truyền, phát triển hội viên, hỗ trợ đào tạo, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm và tư vấn giải pháp phát triển sản xuất hữu cơ phù hợp với thực tiễn địa phương.

Đáng chú ý, UBND cấp xã được giao vai trò trực tiếp trong quản trị vùng sản xuất hữu cơ. Hằng năm, cấp xã phải rà soát, tổng hợp nhu cầu sản xuất nông nghiệp hữu cơ của tổ chức, cá nhân trên địa bàn; phối hợp xây dựng kế hoạch sản xuất tại vùng canh tác hữu cơ; tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát hoạt động sản xuất hữu cơ. Điều này cho thấy quy định mới không chỉ đặt trách nhiệm ở cấp sở, ngành mà kéo quản lý vùng canh tác về sát cơ sở, nơi trực tiếp nắm địa bàn, tập quán sản xuất và nhu cầu của người dân.

Quyết định số 77/2026/QĐ-UBND đồng thời bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 14/2021/QĐ-UBND ngày 18/9/2021 của UBND tỉnh Tuyên Quang về quy định canh tác trên vùng canh tác hữu cơ. Văn bản cũng bãi bỏ số thứ tự 9 Mục I Phụ lục III danh mục quyết định ban hành kèm theo Quyết định số 764/QĐ-UBND ngày 29/9/2025 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc áp dụng các quyết định quy phạm pháp luật của UBND tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang trước sắp xếp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

Việc ban hành quy định mới diễn ra trong bối cảnh Tuyên Quang đang tìm hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững sau sắp xếp đơn vị hành chính, với không gian sản xuất rộng hơn, nhiều lợi thế hơn nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản trị chặt chẽ hơn. Tỉnh có lợi thế lớn về sinh thái, đất đai, rừng, chè Shan tuyết, cây dược liệu, mật ong, cây có múi và nhiều sản phẩm bản địa có khả năng phát triển theo hướng hữu cơ.

Toàn cảnh buổi làm việc giữa UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và Môi trường với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam.

Toàn cảnh buổi làm việc giữa UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và Môi trường với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam.

Trước đó, tại buổi làm việc giữa UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và Môi trường với Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam ngày 16/4, nhiều vấn đề cốt lõi đã được đặt ra. Theo thông tin được nêu tại buổi làm việc, giai đoạn 2020 - 2025, toàn tỉnh có trên 21.800 ha cây trồng sản xuất hữu cơ, trong đó phần lớn là chè Shan tuyết tại khu vực Hà Giang cũ, với trên 21.300 ha. Các loại cây trồng khác như rau, lúa, cây ăn quả mới đạt trên 400 ha; trong khi chăn nuôi và thủy sản chưa có cơ sở nào áp dụng mô hình hữu cơ.

Những con số này cho thấy nông nghiệp hữu cơ Tuyên Quang đã có nền tảng, nhưng còn phát triển chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số sản phẩm và một số vùng có lợi thế. Các điểm nghẽn được nhìn nhận gồm tổ chức sản xuất, chi phí chứng nhận, kiểm soát quy trình, xây dựng thương hiệu, liên kết tiêu thụ và thay đổi tập quán canh tác.

Tại buổi làm việc, đại diện ngành khoa học và công nghệ tỉnh Tuyên Quang cũng chỉ ra tình trạng lạm dụng thuốc diệt cỏ là một trở ngại lớn, có thể làm suy thoái đất về lâu dài và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển nông nghiệp hữu cơ. Với yêu cầu kiểm soát đất, nước, không khí, loại bỏ hóa chất tổng hợp, thuốc diệt cỏ, chất kích thích sinh trưởng và sinh vật biến đổi gen, Quyết định mới đã đặt vấn đề bảo vệ nền tảng sinh thái lên vị trí trung tâm.

Đại diện Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cũng nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa cách gọi, tránh nhầm lẫn giữa sản phẩm hữu cơ, sản phẩm chuyển đổi hữu cơ và sản phẩm sản xuất theo hướng hữu cơ. Đây là nội dung đã được cụ thể hóa trong Quyết định thông qua quy định về thời gian chuyển đổi, điều kiện ghi nhãn và yêu cầu truy xuất nguồn gốc vật tư đầu vào.

Phát biểu kết luận buổi làm việc ngày 16/4, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Gia Long nhấn mạnh yêu cầu lựa chọn mô hình kỹ, làm chắc, có kết quả thực chất rồi mới nhân rộng; tuyệt đối không phát triển theo phong trào. Việc ban hành Quyết định số 77/2026/QĐ-UBND cho thấy định hướng này đang được cụ thể hóa bằng công cụ quản lý nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để các địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và nông hộ triển khai trong thực tế.

Từ góc nhìn phát triển, Quyết định số 77/2026/QĐ-UBND có thể xem là bước chuyển từ “tìm hướng” sang “thiết lập điều kiện thực thi” cho nông nghiệp hữu cơ Tuyên Quang. Bởi muốn phát triển hữu cơ bền vững, địa phương không thể chỉ dựa vào tiềm năng sinh thái hay một vài sản phẩm đã có chứng nhận, mà cần một hệ thống quy định đủ rõ để kiểm soát vùng sản xuất, vật tư đầu vào, quy trình canh tác, chế biến, truy xuất và tiêu thụ.

Trong giai đoạn mới, nông nghiệp hữu cơ Tuyên Quang đứng trước cả cơ hội và áp lực. Cơ hội đến từ lợi thế rừng, đất đai, khí hậu, sản phẩm bản địa và nhu cầu thị trường đối với nông sản sạch, minh bạch, có trách nhiệm. Áp lực nằm ở việc thay đổi tập quán canh tác, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật, duy trì chứng nhận, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ.

Bởi vậy, quy định mới về canh tác trên vùng canh tác hữu cơ không chỉ là yêu cầu tuân thủ, mà còn là nền tảng để Tuyên Quang bảo vệ giá trị thật của sản phẩm hữu cơ. Khi vùng sản xuất được khoanh định, đầu vào được kiểm soát, quá trình chuyển đổi được minh bạch và trách nhiệm quản lý được phân cấp rõ ràng, con đường phát triển hữu cơ của địa phương sẽ có thêm cơ sở để đi xa hơn, bền vững hơn và tạo lợi ích thực chất cho người sản xuất.

Phạm Thông

[email protected]

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/tuyen-quang-ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-vung-canh-tac-huu-co-15440.html