Tỷ lệ xử lý nước thải tại TP.HCM chưa đến 20%
Sau sáp nhập, lượng nước thải cần được xử lý mỗi ngày tại TP.HCM tăng lên đáng kể. Trong khi đó, hệ thống xử lý nước thải lại chưa được đồng bộ.

Chia sẻ tại Hội thảo "An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Nino và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông" do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tổ chức chiều ngày 6/11, thạc sĩ Nguyễn Viết Vũ, Trưởng Phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, cho biết trên thực tế, tình trạng ô nhiễm sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố đến từ nhiều yếu tố. Tuy nhiên, có 3 nguyên nhân chính cần tập trung giải quyết.
Tiến độ xây dựng các nhà máy xử lý nước thải còn chậm
Cụ thể, ông Vũ chỉ ra lượng nước thải đô thị, chủ yếu từ các hộ gia đình và sinh hoạt của người dân, còn rất lớn. Hiện nay sau sáp nhập, thành phố phát sinh hơn 3 triệu m3 nước thải/ngày. Trong khi đó, tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý mới đạt khoảng 19,5%, tức chưa đến 20%. Như vậy, phần lớn lượng nước thải vẫn chưa được thu gom, xử lý triệt để trước khi xả ra môi trường. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây sức ép lên chất lượng nước các dòng sông, kênh, rạch.

Thạc sĩ Nguyễn Viết Vũ, Trưởng Phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM (NN&MT), chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: BTC.
Đối với nước thải từ các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp và ngành y tế, thành phố đã có công cụ quản lý, kiểm soát và yêu cầu xử lý. Tỷ lệ xử lý đối với các nguồn thải này hiện đạt 100%. Vì vậy, ông Vũ cho rằng trọng tâm cần tập trung hiện nay là kiểm soát nước thải sinh hoạt đô thị.
Nguyên nhân tiếp theo nằm ở hệ thống thu gom nước thải chưa đồng bộ. Ở nhiều khu vực, nhà máy xử lý nước thải đã được xây dựng nhưng chưa có hệ thống đường ống thu gom để dẫn nước thải về xử lý. Điều này khiến công suất và hiệu quả khai thác các công trình chưa đạt như kỳ vọng.
Theo ông, để xử lý hiệu quả nước thải đô thị, thành phố cần xây dựng mạng lưới thu gom hoàn chỉnh, từ các tuyến cống nhánh đến hệ thống cống bao dọc sông, kênh, rạch, sau đó dẫn về các nhà máy xử lý tập trung.
Song song đó, đại diện Sở NN&MT chia sẻ tiến độ đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý nước thải còn chậm. Dù thành phố đã có quy hoạch, chương trình giảm ô nhiễm môi trường và các kế hoạch hành động cụ thể, nhưng quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực tài chính, quỹ đất và công tác quy hoạch.
"Đây là 3 thách thức lớn tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường nước trên địa bàn thành phố. Muốn cải thiện bền vững chất lượng sông, kênh, rạch, cần đẩy nhanh đầu tư các nhà máy xử lý nước thải, đồng thời hoàn thiện đồng bộ mạng lưới thu gom, đặc biệt là đối với nước thải sinh hoạt đô thị", ông Vũ nói.
Kế hoạch số 477/KH-UBND đặt mục tiêu đến năm 2030 thu gom khoảng 80% nước thải đô thị, nâng tỷ lệ thu gom, xử lý đạt chuẩn lên trên 70%. Danh mục gồm 9 dự án hệ thống thu gom và 14 dự án xử lý nước thải, tổng công suất thiết kế dự kiến khoảng 2,845 triệu m3/ngày đêm.
Hiện, TP.HCM ưu tiên hoàn thiện cống bao, trạm bơm, tuyến thu gom và điểm đấu nối tại lưu vực đã có nhà máy, xây dựng nhà máy đồng thời với mạng lưới thu gom. Đồng thời, thành phố cũng tập trung quản lý thống nhất theo lưu vực, kiểm soát nguồn xả, quan trắc và công khai chất lượng nước, kết hợp vốn đầu tư công với nguồn lực ngoài ngân sách, chuẩn bị quỹ đất và phương án vận hành để bảo đảm hiệu quả bền vững.
Nghiên cứu triển khai nhiều giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư
Liên quan đến giải pháp nhằm phục hồi sông, kênh, rạch bền vững, ông Vũ nhìn nhận thành phố cần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, kết hợp ngân sách nhà nước với huy động nguồn lực xã hội.
Trên thực tế, bên cạnh ngân sách dành cho công tác giải phóng mặt bằng, di dời người dân ven sông, thành phố đang nghiên cứu, triển khai các cơ chế như BT, đổi đất lấy hạ tầng để thu hút nhà đầu tư tham gia xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải. Cách làm này vừa giảm áp lực cho ngân sách, vừa phát huy nguồn lực từ khu vực tư nhân.
Bên cạnh đó, ông Vũ nhìn nhận cần phát huy vai trò của cộng đồng doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp tác công - tư (PPP), đồng hành cùng thành phố trong đầu tư, chỉnh trang đô thị và bảo vệ môi trường.
Đối với người dân, yếu tố quan trọng nhất nằm ở việc tạo sự đồng thuận, đặc biệt tại các khu vực phải giải phóng mặt bằng, di dời nhà ở, ảnh hưởng đến sinh kế. Các chính sách cần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, tạo sự chia sẻ trong quá trình chỉnh trang đô thị.
Ông Vũ nhấn mạnh cần phát huy vai trò giám sát của cộng đồng sau khi công trình hoàn thành. Hiệu quả dự án phải được đánh giá qua việc nghiệm thu, bàn giao và cả ở chất lượng môi trường nước cũng như sự hồi sinh thực sự của dòng sông. Những phản ánh, giám sát của người dân sẽ là kênh phản biện độc lập, giúp cơ quan quản lý kịp thời phát hiện bất cập, ngăn ngừa tái ô nhiễm và bảo đảm hiệu quả lâu dài.
Nguồn Znews: https://znews.vn/ty-le-xu-ly-nuoc-thai-tai-tphcm-chua-den-20-post1694800.html

