Ứng dụng khoa học và công nghệ tăng hiệu quả công tác nghèo bền vững ở Thanh Hóa
Việc ứng dụng khoa học – công nghệ được 'đặt đúng chỗ', gắn với sinh kế, hạ tầng và nhu cầu thực tế của người dân đã tạo nền tảng phát triển lâu dài, thoát nghèo bền vững.

Ứng dụng công nghệ vào trồng dưa lưới tăng năng suất. Ảnh BTH
Ứng dụng khoa học – công nghệ nâng cao giá trị sản xuất
Trong giai đoạn 2021–2025, Thanh Hóa triển khai Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững theo hướng toàn diện, không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn chú trọng các chiều thiếu hụt về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. Cùng với hỗ trợ vốn, hỗ trợ sản xuất, tỉnh đẩy mạnh các hoạt động nâng cao năng lực, chuyển giao kỹ thuật, tạo điều kiện để người dân tự vươn lên thoát nghèo.
Các địa phương chủ động đổi mới phương thức thực hiện, chuyển từ hỗ trợ “cho không” sang hướng dẫn, đồng hành và trao công cụ phát triển sinh kế. Nhiều mô hình sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt và dịch vụ phù hợp điều kiện từng vùng được lựa chọn, triển khai thí điểm rồi nhân rộng, từng bước hình thành tư duy làm ăn bền vững trong cộng đồng.
Một trong những điểm nhấn của công tác giảm nghèo tại Thanh Hóa là việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Nhiều mô hình chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ được hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Thực tế cho thấy, khi tư duy sản xuất được thay đổi, mô hình được lựa chọn đúng và trúng, người dân chủ động hơn trong phát triển kinh tế hộ. Hàng nghìn hộ nghèo đã mạnh dạn vay vốn, đầu tư máy móc, chuyển đổi phương thức sản xuất, nâng cao giá trị nông sản. Nhờ đó, thu nhập của người dân ở nhiều địa phương tăng từ 1,5 đến 2 lần chỉ sau vài năm triển khai mô hình.
Toàn tỉnh đã triển khai hơn 950 mô hình giảm nghèo, kết nối trên 12.000 lao động với việc làm; 93% hộ dân được tiếp cận viễn thông – internet, 95% hộ tiếp cận thông tin về giảm nghèo. Song song với đó, tỉnh chú trọng tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ phát triển sinh kế và xây dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp gắn với thị trường.
Những năm gần đây, Thanh Hóa đẩy mạnh chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Các vùng nguyên liệu tập trung dần hình thành, tạo nền tảng để doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu và phát triển chuỗi giá trị.
Trong quá trình đó, công nghệ thông tin trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp cơ quan quản lý, hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân tiếp cận thông tin thị trường nhanh hơn, chính xác hơn. Tỉnh đã thiết lập mã số vùng trồng cho gần 2.000 ha cây trồng; xây dựng bản đồ nông hóa và vận hành cổng thông tin điện tử “nongsanantoanthanhhoa.vn” nhằm kết nối cung – cầu nông sản an toàn.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, đến cuối năm 2025, toàn tỉnh đã xây dựng được 1.478 chuỗi giá trị trong trồng trọt, 269 chuỗi trong chăn nuôi và hàng chục chuỗi ở lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản. Tổ chức sản xuất theo chuỗi không chỉ giúp giảm chi phí, kiểm soát chất lượng mà còn nâng cao giá trị gia tăng, từng bước xây dựng thương hiệu nông sản xứ Thanh.
Lâm nghiệp cũng là một trong những lĩnh vực được Thanh Hóa xác định ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ để tạo sinh kế ổn định cho người dân miền núi. Thông qua việc triển khai các nhiệm vụ khoa học – công nghệ gắn với Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, tỉnh đã từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng.
Việc đưa các giống cây mới như keo lai, luồng năng suất cao vào sản xuất, kết hợp áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến từ trồng, chăm sóc, bảo vệ đến chế biến lâm sản đã giúp gia tăng hiệu quả kinh tế rừng.
Nhiều địa phương đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, gắn trồng rừng với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, qua đó tạo việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người dân. Không dừng lại ở khai thác gỗ nguyên liệu, các mô hình trồng rừng bền vững, trồng cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng, phát triển công nghệ chế biến ván ép, đồ mộc… đang góp phần đa dạng hóa sinh kế, giảm phụ thuộc vào khai thác thô, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, rừng đầu nguồn.
Kết quả giảm nghèo tích cực

Thanh Hóa xác định việc triển khai các Chương trình MTQG không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là trách nhiệm chính trị quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các địa bàn đặc biệt khó khăn.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, từ năm 2021 đến ngày 20/11/2025, tổng vốn giải ngân từ ngân sách Trung ương cho 3 Chương trình MTQG trên địa bàn tỉnh đạt hơn 7.500 tỷ đồng, tương đương gần 88% kế hoạch. Việc triển khai được thực hiện công khai, minh bạch, phát huy trách nhiệm của các sở, ngành và chính quyền địa phương, tạo nền tảng để các giải pháp khoa học – công nghệ phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Nhờ cách làm bài bản, gắn đầu tư với ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và nâng cao năng lực người dân, giai đoạn 2022–2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm mạnh từ 6,78% xuống còn 0,52% theo chuẩn nghèo đa chiều; bình quân mỗi năm giảm 1,56%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và mục tiêu Chính phủ giao. Riêng khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20,46% năm 2022 xuống 8,6% năm 2024, năm 2025 còn khoảng 5,6%.
Những kết quả này cho thấy, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số đang thực sự trở thành động lực quan trọng, góp phần đưa công tác giảm nghèo bền vững ở Thanh Hóa đi vào chiều sâu, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tiếp theo.












