Ưu đãi đầu tư đi đôi với hiệu quả và trách nhiệm

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư được Bộ Tài chính xây dựng với nhiều chính sách mới nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và nâng cao hiệu quả đóng góp của khu vực FDI đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi, cần làm rõ tiêu chí ưu đãi, công bằng và kiểm soát chặt chẽ nguồn lực hỗ trợ.

Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được định hướng theo hướng gắn với cam kết và kết quả thực hiện. Ảnh: TTXVN

Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được định hướng theo hướng gắn với cam kết và kết quả thực hiện. Ảnh: TTXVN

Đổi mới chính sách ưu đãi, hướng tới chất lượng dòng vốn

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, nếu lần sửa đổi trước tập trung điều chỉnh danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 66-NQ/TW thì lần này hướng tới cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới. Cùng với việc hoàn thiện chính sách dành cho khu vực FDI, Dự thảo Luật cũng rà soát các quy định nhằm bảo đảm sự bình đẳng, cân bằng giữa doanh nghiệp (DN) trong nước và  DN FDI.

Dự thảo Luật tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn, gồm: Hoàn thiện quy định về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; hoàn thiện quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nhằm đổi mới định hướng đầu tư nước ngoài, xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số; hoàn thiện quy định về thủ tục đầu tư để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; hoàn thiện quy định nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Đáng chú ý, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được định hướng theo hướng gắn với cam kết và kết quả thực hiện, khuyến khích các dự án thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số. Bên cạnh các ưu đãi truyền thống, Dự thảo bổ sung hình thức hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng, sản xuất sản phẩm công nghệ, đầu tư ban đầu và tài sản cố định; đồng thời chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ trực tiếp, gắn với hiệu quả thực hiện dự án.

Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt cũng được hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng, lĩnh vực ưu tiên; hỗ trợ chi phí đào tạo, phát triển nhân lực, hạ tầng xã hội và sản xuất sản phẩm công nghệ cao. Đối với những dự án cần thu hút và có tác động lan tỏa, Chính phủ được trao quyền quyết định các gói ưu đãi, hỗ trợ vượt trội. Dự thảo đồng thời bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển khu công nghiệp sinh thái, khuyến khích chuyển đổi xanh thông qua cơ chế khấu hao nhanh, kéo dài thời gian hoạt động của dự án và hoàn thiện Quỹ Hỗ trợ đầu tư.

Bên cạnh đó, việc mở rộng quyền tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài cũng được đặt ra. Theo đó, Chính phủ có thể xem xét nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ. Thủ tục đầu tư đặc biệt được mở rộng đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư đặc biệt, kể cả dự án nằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế.

Một điểm mới khác là định hướng chuyển dần từ quản lý đầu tư dựa trên hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu thông qua xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia. Công tác giám sát, kiểm tra, đánh giá đầu tư sẽ gắn chặt hơn với việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; các dự án vi phạm, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên có thể bị thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. Hoạt động xúc tiến đầu tư cũng được định hướng có chọn lọc, chú trọng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và khả năng liên kết, lan tỏa.

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Dự án Luật sáng 30/9, Chủ nhiệm UBKTTC Phan Văn Mãi đề nghị cần làm rõ cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; lượng hóa các tiêu chí như vốn đầu tư, vốn giải ngân, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, giá trị sản xuất trong nước...

Hoàn thiện cơ chế ưu đãi, bảo đảm yêu cầu kiểm toán

Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính (UBKTTC) của Quốc hội Bùi Văn Dũng nhấn mạnh, việc sửa đổi lần này phải cụ thể hóa được Nghị quyết số 10-NQ/TW trong giai đoạn mới, hướng tới đổi mới căn bản tư duy về thu hút FDI và tháo gỡ thực chất các rào cản đầu tư kinh doanh. Tinh thần là chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, cắt giảm điều kiện kinh doanh, số hóa thủ tục, giảm tối đa chi phí tuân thủ và tránh chồng chéo giữa các luật.

Trong khi đó, Ủy viên chuyên trách UBKTTC Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là nội dung then chốt, song để làm rõ cơ chế hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, Dự thảo Luật cần bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc để nhà đầu tư có thể xác định cụ thể những kết quả mà dự án phải đạt được và mức ưu đãi tương ứng. Các tiêu chí cần hướng tới những đóng góp thực chất như ứng dụng công nghệ cao, công nghệ lõi, tạo ra sản phẩm chiến lược, nâng cao năng suất lao động, hình thành chuỗi cung ứng và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước.

Đối với các dự án FDI và dự án trọng điểm, Ủy viên chuyên trách UBKTTC Phan Đức Hiếu đề nghị xác định cụ thể tiêu chí về chuyển giao công nghệ, thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), tỷ lệ nội địa hóa, hình thành chuỗi cung ứng và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Trên cơ sở đó, cần quy định rõ các chính sách hỗ trợ tương ứng, đồng thời làm rõ việc áp dụng cách tiếp cận mới đối với cả chính sách ưu đãi hiện hành hay chỉ những chính sách bổ sung.

Theo ông Hiếu, đổi mới chính sách ưu đãi cũng phải đặt trong yêu cầu bảo đảm công bằng giữa các khu vực DN. Việc hỗ trợ không nên chỉ dành riêng cho DN FDI nếu doanh nghiệp trong nước cũng có nhu cầu và đáp ứng các điều kiện tương tự, trừ những trường hợp có tính chất đặc thù, cấp thiết như đào tạo nhân lực ngành bán dẫn. Điều quan trọng là chính sách phải minh bạch, có tiêu chí rõ ràng và bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực hỗ trợ.

Phó Chủ nhiệm UBKTTC Nguyễn Minh Sơn đề nghị, việc mở rộng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài cần được thực hiện thận trọng. Nếu trao quyền cho Chính phủ nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường, Luật cần quy định rõ nguyên tắc, giới hạn và cơ chế công khai danh mục, tránh việc điều chỉnh thường xuyên gây mất ổn định cho DN và ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh.

Đối với chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, ông Sơn nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ tiêu chí lựa chọn dự án, cơ chế thu hồi khoản hỗ trợ khi nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết và trách nhiệm của cơ quan quyết định. Việc hỗ trợ phải phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực, tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính, đồng thời bảo đảm yêu cầu kiểm toán, giám sát.

Việc hoàn thiện các quy định trên là cơ sở để chính sách ưu đãi vừa tạo động lực thu hút các dự án chất lượng cao, vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước và duy trì môi trường đầu tư ổn định, minh bạch./.

HỒNG NHUNG

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/uu-dai-dau-tu-di-doi-voi-hieu-qua-va-trach-nhiem