Ưu đãi thuế phải đúng đối tượng, đúng mục đích, bảo đảm công bằng
Sáng 6/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân. Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề nghị làm rõ đối tượng, phạm vi ưu đãi thuế trong lĩnh vực giáo dục, y tế. Đồng thời tăng cường cơ chế giám sát, bảo đảm chính sách thực sự mang lại lợi ích cho người học, người bệnh, tránh bị lợi dụng.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp
Rà soát kỹ đối tượng, phạm vi ưu đãi
Cơ bản nhất trí với nhiều nội dung của dự thảo Luật, nhất là chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục công lập và miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Tuy nhiên, ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) cho rằng, một số chính sách khác cần được cân nhắc kỹ lưỡng hơn để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Trong đó, cần rà soát chính sách miễn thuế đối với cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, làm rõ căn cứ và phạm vi áp dụng, nhất là đối với cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đại biểu, cần quy định cụ thể thu nhập được miễn thuế, chỉ áp dụng đối với hoạt động giáo dục, đào tạo; đồng thời có cơ chế thu hồi số thuế đã miễn nếu cơ sở vi phạm cam kết hoạt động không vì lợi nhuận. Đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, cần xác định rõ diện tích trực tiếp phục vụ giáo dục được miễn thuế, bao gồm cả các công trình phụ trợ; phân định với diện tích sử dụng cho hoạt động kinh doanh độc lập.

Các đại biểu thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân
Trong khi đó, ĐBQH Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên) phân tích, hoạt động giáo dục và đào tạo không chỉ diễn ra trong bốn bức tường phòng học mà đòi hỏi một hệ sinh thái hạ tầng đi kèm vô cùng phong phú. Nếu chỉ hiểu đất sử dụng vào mục đích giáo dục theo nghĩa hẹp là diện tích xây dựng phòng học thì có thể bỏ sót nhiều diện tích thiết yếu trực tiếp phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo.
Từ thực tế này, ĐBQH Nguyễn Văn Huy đề nghị ban soạn thảo bổ sung quy định rõ ràng, bao gồm cả diện tích xây dựng công trình giảng dạy, học tập, nghiên cứu, thực hành, thư viện, sân chơi, bãi tập, ký túc xá và các công trình phụ trợ phục vụ trực tiếp cho hoạt động giáo dục. Song hành với việc mở rộng phạm vi, cũng cần lưu ý sự cần thiết phải phân định rạch ròi giữa diện tích phục vụ giáo dục với diện tích được sử dụng vào mục đích kinh doanh độc lập. Điều này mang ý nghĩa sống còn, nhằm bảo đảm ưu đãi phát huy đúng đối tượng, đúng mục đích, đồng thời bịt kín các kẽ hở có thể bị lợi dụng để trục lợi chính sách.
Chia sẻ góc nhìn toàn diện hơn về quỹ đất trường học, ĐBQH Lê Thị Thanh Xuân (Đắk Lắk), nhìn nhận, ưu đãi thuế không đồng nghĩa với việc đã giải quyết trọn vẹn bài toán thiếu hụt quỹ đất trường học tại các đô thị lớn, khu công nghiệp hay khu vực biên giới, nơi dân số tăng cơ học nhanh chóng. Đại biểu kiến nghị việc triển khai chính sách miễn thuế đất phải đi đôi với đồng bộ quy hoạch, chủ động bố trí quỹ đất trường học và xem xét khai thác các vị trí quỹ đất trụ sở công, nhà đất dôi dư sau sắp xếp để bổ sung cho mục đích giáo dục. Đối với phần đất sử dụng hỗn hợp vừa phục vụ giáo dục vừa kết hợp hoạt động thương mại dịch vụ, cần có hướng dẫn cụ thể cách xác định diện tích được miễn thuế để đảm bảo tính công bằng.

Vấn đề thu hút sự quan tâm tại hội trường là chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. ĐBQH Lê Thị Thanh Xuân đánh giá cao định hướng miễn thuế TNDN bao gồm cả thu nhập từ hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ, phụ trợ giáo dục. Dù vậy, cần có hướng dẫn minh bạch để ranh giới giữa dịch vụ hỗ trợ giáo dục với các hoạt động kinh doanh độc lập không bị mập mờ. Đặc biệt, đối với các cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, cần có cơ chế giám sát thực chất để đảm bảo không có việc chia lợi tức, không rút vốn và toàn bộ phần tích lũy phải được quay vòng phát triển nhà trường.
Miễn thuế gắn với lợi ích thực chất và công bằng
Tuy nhiên, tiếp cận từ lăng kính thực tiễn quản lý tài chính và công bằng xã hội, ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) phân tích, các cơ sở giáo dục ngoài công lập (đặc biệt là các trường danh tiếng, trường mang yếu tố quốc tế) có số lượng học sinh rất lớn, mức thu học phí cao và nguồn thu nhập, lợi nhuận khổng lồ. Nếu chúng ta miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở tư thục thì có khả năng sắp tới đây nhiều cơ sở giáo dục tư thục họ sẽ chuyển sang mô hình hoạt động không vì lợi nhuận. Trong khi đó, người học tại các trường này chủ yếu là con em gia đình khá giả, do đó việc điều tiết thuế đối với họ là hoàn toàn hợp lý và số thu ngân sách mang lại không hề nhỏ.
Từ đó, ĐBQH Phạm Văn Hòa đề nghị thu hẹp phạm vi miễn thuế toàn diện, thay vào đó nên tập trung ưu đãi đặc biệt để kêu gọi đầu tư giáo dục chất lượng cao vào các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn như Đông Bắc, Tây Bắc hay Đồng bằng sông Cửu Long.

Toàn cảnh phiên họp
Đồng quan điểm trên, ĐBQH Nguyễn Văn Thân (Thành phố Hồ Chí Minh) dẫn số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy, cả nước hiện có khoảng 3.900 cơ sở giáo dục ngoài công lập với xu hướng ngày càng tăng, nhưng đa phần chưa đáp ứng được tiêu chí xã hội hóa nên chưa được hưởng ưu đãi hiện hành. Điều này chứng minh phần lớn khu vực ngoài nhà nước đang hoạt động theo cơ chế thị trường. Đại biểu khẳng định việc vận hành các cơ sở giáo dục tư nhân nên tuân thủ cơ chế thị trường để đảm bảo chất lượng dạy học và cơ sở vật chất. Đại biểu đồng thời bày tỏ sự chưa đồng tình với việc cào bằng miễn thuế TNDN cho khối tư thục không vì lợi nhuận vì có thể tạo ra sự bất bình đẳng trong nền kinh tế.
Đối với chính sách miễn thuế cho hoạt động cung cấp suất ăn tại cơ sở giáo dục và y tế, các đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ tính công bằng và hiệu quả thực thi. ĐBQH Nguyễn Cao Sơn cho rằng, miễn thuế không đồng nghĩa với việc giá suất ăn giảm, chất lượng được nâng lên hay an toàn thực phẩm được bảo đảm. Trong khi đó, doanh nghiệp cung cấp suất ăn thường hoạt động đa lĩnh vực, phục vụ nhiều nhóm đối tượng nên khó xác định riêng phần thu nhập được miễn thuế. Do đó cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ trực tiếp hoặc xem xét giảm thuế giá trị gia tăng để hỗ trợ học sinh, người bệnh.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu nêu
ĐBQH Tô Ái Vang (Thành phố Cần Thơ) cũng nhấn mạnh cần có cơ chế giám sát giá thành, khẩu phần, chất lượng và nguồn gốc thực phẩm; làm rõ trách nhiệm của nhà trường và đơn vị cung cấp trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Đồng thời, cơ quan quản lý cần hướng dẫn thống nhất về hóa đơn, chứng từ khi mua thực phẩm từ hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ và làm rõ phạm vi miễn thuế giá trị gia tăng.
Các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu thiết kế chính sách ưu đãi thuế gắn với mục tiêu và hiệu quả thực chất. Không chỉ xác định đúng đối tượng, phạm vi được hưởng, các quy định còn cần có cơ chế kiểm tra, giám sát và phối hợp thực hiện rõ ràng. Đây là điều kiện để chính sách thuế vừa tạo động lực huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục, y tế, vừa bảo đảm công bằng, minh bạch và lợi ích thiết thực của người dân.
Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu ý kiến đại biểu, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương tại Nghị quyết số 71, Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 21 - NQ/TW...bảo đảm dự thảo Luật đồng bộ, khả thi và phù hợp với thực tiễn.
Kết luận nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị Chính phủ chỉ đạo cơ quan soạn thảo phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra và các đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, tiếp thu, giải trình đầy đủ và kỹ lưỡng toàn bộ ý kiến của đại biểu Quốc hội, đặc biệt là những nội dung còn có ý kiến khác nhau. Cơ quan soạn thảo cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thông qua ngay tại kỳ họp này, bảo đảm chất lượng dự thảo và dành đủ thời gian cho các đại biểu Quốc hội nghiên cứu.
