Vai trò của đảng bộ, đảng viên tiên phong làm chủ công nghệ chiến lược

Ngày 6/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký ban hành Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Các đại biểu tham quan triển lãm giới thiệu các sản phẩm công nghệ tại sự kiện Techfest Hải Phòng 2026. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu tham quan triển lãm giới thiệu các sản phẩm công nghệ tại sự kiện Techfest Hải Phòng 2026. Ảnh: TTXVN

Đây được xem là bước cụ thể hóa quyết liệt nhằm đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào thực tiễn. Trong toàn bộ định hướng và giải pháp thực hiện, vai trò của cộng đồng doanh nghiệp được xác định là hạt nhân, đóng vai trò quyết định để đưa các công nghệ lõi từ phòng thí nghiệm ra thị trường toàn cầu.

Đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái

Chương trình đặt mục tiêu tổng quát là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, việc hình thành một hệ sinh thái công nghệ chiến lược dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa “ba nhà”: Nhà nước-Doanh nghiệp-Tổ chức khoa học và công nghệ được coi là yếu tố then chốt, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ thể ứng dụng và thương mại hóa.

Nhằm đặt nền móng vững chắc cho sự bứt phá của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới, chương trình đã phác thảo một lộ trình bài bản với những cột mốc cụ thể, hướng tới hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược đóng vai trò "đầu tàu" dẫn dắt. Theo đó, trọng tâm giai đoạn 2026-2030 tập trung nuôi dưỡng và phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp đủ năng lực làm chủ các công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược thông qua việc trực tiếp gánh vác các nhiệm vụ quốc gia. Trong số đó, ít nhất 5 doanh nghiệp sẽ là những "cánh chim đầu đàn" đưa sản phẩm Việt hiện diện trên bản đồ giá trị toàn cầu, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm thương mại đạt mức khoảng 40%. Đối với tầm nhìn giai đoạn 2031-2035 sẽ tiếp tục mở rộng quy mô, hướng đến mục tiêu hình thành ít nhất 30 doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về công nghệ và sản phẩm. Đây sẽ là chặng đường chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc khi có tối thiểu 10 doanh nghiệp tự tin vươn tầm thế giới, chủ động tham gia và khẳng định vị thế trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua "thung lũng chết" trong quá trình thương mại hóa sản phẩm công nghệ cao, Chương trình đề ra nhóm nhiệm vụ, giải pháp quyết liệt về thị trường và đầu ra. Theo đó, Nhà nước thúc đẩy các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ chương trình.

Song song với các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại và kết nối cung cầu, Chương trình đặc biệt chú trọng cơ chế kết nối ngay từ khâu thiết kế nhiệm vụ. Việc khuyến khích xác định ngay doanh nghiệp tiếp nhận, thử nghiệm hoặc thương mại hóa từ giai đoạn đăng ký đề tài sẽ giúp các nghiên cứu bám sát nhu cầu thực tiễn, tránh tình trạng "nghiên cứu cất tủ".

Một điểm nhấn quan trọng khác trong Quyết định 1493/QĐ-TTg là mô hình lan tỏa công nghệ. Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ chiến lược - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu chuỗi - chủ động hợp tác với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các viện nghiên cứu và trường đại học. Mối quan hệ hợp tác này bao trùm từ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm cho đến hoàn thiện và chuyển giao, từ đó hình thành các chuỗi liên kết sản xuất công nghệ chiến lược mang thương hiệu Việt.

Mô hình liên kết "Ba nhà" (Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện/Trường) giúp gắn kết nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của thị trường. (Ảnh Đỗ Bảo-Mai Huyên)

Mô hình liên kết "Ba nhà" (Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện/Trường) giúp gắn kết nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của thị trường. (Ảnh Đỗ Bảo-Mai Huyên)

Cùng với đó, doanh nghiệp cũng sẽ là môi trường thực tiễn quan trọng để đào tạo nhân lực. Chương trình khuyến khích sự phối hợp ba bên giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời thu hút các Tổng công trình sư, chuyên gia và nhà khoa học xuất sắc tham gia trực tiếp vào các dự án trọng điểm.

Quyết định số 1493/QĐ-TTg không chỉ khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, mà còn mở ra cơ hội lớn, trao sứ mệnh lịch sử cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trên con đường làm chủ các công nghệ chiến lược của tương lai.

Hạt nhân lãnh đạo từ đảng bộ và vai trò tiên phong của mỗi đảng viên

Tuy nhiên, để những mục tiêu lớn của Quyết định 1493/QĐ-TTg và định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW thực sự đơm hoa kết trái tại từng cơ sở, yếu tố quyết định trước hết nằm ở năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng tại mỗi doanh nghiệp.

Thực tiễn cho thấy, đảng bộ trong doanh nghiệp chính là "bánh lái" định hướng chính trị và là chỗ dựa vững chắc cho mọi bước đi đột phá về công nghệ. Thông qua việc ban hành các nghị quyết chuyên đề, Đảng bộ trực tiếp cụ thể hóa các mục tiêu khoa học và công nghệ quốc gia thành nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh trọng tâm; đồng thời xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát để nguồn lực nghiên cứu-phát triển (R&D) được sử dụng đúng hướng, hiệu quả và minh bạch. Trong bối cảnh việc nghiên cứu công nghệ lõi luôn đối mặt với rủi ro và áp lực lớn, chính sự đồng hành và bản lĩnh chính trị của cấp ủy sẽ truyền nguồn năng lượng "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" cho Ban điều hành và toàn thể cán bộ, công nhân viên.

Song hành cùng vai trò kiến tạo của tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại doanh nghiệp chính là những "mũi nhọn tiên phong" trực tiếp hiện thực hóa khát vọng công nghệ. Dù ở vị trí nhà quản lý, kỹ sư nghiên cứu hay công nhân vận hành, người đảng viên luôn phải tiên phong trong việc làm chủ tri thức mới, chủ động nhận lãnh những khâu khó, việc mới trong chuỗi nghiên cứu-phát triển và thương mại hóa sản phẩm. Bằng tinh thần trách nhiệm, tư duy sáng tạo và sự gương mẫu trong phong trào lao động, mỗi đảng viên không chỉ khẳng định vai trò nòng cốt chuyên môn mà còn lan tỏa ngọn lửa đổi mới sáng tạo, kết nối đồng nghiệp và phát huy sức mạnh tập thể.

Có thể khẳng định, Quyết định số 1493/QĐ-TTg không chỉ mở ra cơ hội lớn cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trên con đường làm chủ công nghệ chiến lược, mà còn đặt lên vai đảng bộ và từng đảng viên tại doanh nghiệp một sứ mệnh lịch sử: làm hạt nhân quy tụ, dẫn dắt và biến các chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ thành những sản phẩm công nghệ cụ thể, đóng góp thiết thực cho sự tự chủ và vươn tầm của nền kinh tế quốc gia.

Bài học quốc tế: Trung Quốc - Từ “công xưởng thế giới” đến cường quốc công nghệ cao

Qua hơn 40 năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế thâm dụng lao động sang mô hình phát triển dựa trên khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Giai đoạn đầu công nghiệp hóa, Trung Quốc khẳng định vị thế “công xưởng của thế giới” nhờ nguồn lao động giá rẻ và quy mô sản xuất lớn. Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, mô hình này dần bộc lộ hạn chế khi chi phí lao động tăng cao, cạnh tranh quốc tế gay gắt và phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài. Nhằm nâng cao vị thế trong trật tự kinh tế toàn cầu, Bắc Kinh đã chủ động chuyển trọng tâm sang công nghệ cao, tự chủ công nghệ và xem đây là chiến lược phát triển mang tính sống còn.

Theo đó, tiến trình chuyển đổi mang tính bước ngoặt này được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua hàng loạt chiến lược quốc gia tầm cỡ. Trước hết, phải kể đến chiến lược “Made in China 2025” ban hành năm 2015, đánh dấu bước ngoặt đưa Trung Quốc từ “cường quốc sản xuất số lượng lớn” thành “cường quốc sản xuất công nghệ cao”, tập trung vào 10 ngành then chốt như robot, hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin tiên tiến, xe năng lượng mới và sinh học. Song song với đó, chương trình “Internet Plus” tiếp tục tạo động lực bằng việc tích hợp internet, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) vào toàn bộ nền kinh tế nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số quốc gia. Không dừng lại ở đó, sáng kiến “China Standards 2035” được triển khai như một bước đi chiến lược tiếp theo, thể hiện rõ tham vọng không chỉ tham gia mà còn tiến tới định hình các tiêu chuẩn công nghệ toàn cầu trong kỷ nguyên số.

Trên nền tảng đó, Trung Quốc tập trung xây dựng chuẩn mực cho các công nghệ tương lai như IoT, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, 5G và AI - những mắt xích cốt lõi của hạ tầng chiến lược toàn cầu. Nhờ vậy, quốc gia này đã gặt hái nhiều thành tựu then chốt: hạ tầng số được nội địa hóa hoàn toàn; tỷ lệ tự chủ ngành bán dẫn tăng vượt bậc từ gần 0% lên 40% vào đầu năm 2025 (Global Times). Thực tiễn này khẳng định bước ngoặt trong tư duy phát triển của Bắc Kinh: từ “sản xuất để tăng trưởng” sang “làm chủ công nghệ để dẫn dắt”.

Tuy nhiên, sự bứt phá của các tập đoàn công nghệ không đến tự nhiên mà gắn liền với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo do Nhà nước định hướng và kiến tạo. Cụ thể, việc kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước, viện-trường, quỹ đầu tư mạo hiểm và cộng đồng khởi nghiệp đã biến Thâm Quyến, Hàng Châu hay Bắc Kinh thành những “cực tăng trưởng” nòng cốt. Sự đầu tư bài bản cho nghiên cứu công nghệ lõi cùng nguồn nhân lực chất lượng cao chính là bệ phóng giúp Trung Quốc làm chủ cuộc chơi công nghệ toàn cầu.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nhìn từ kinh nghiệm của các nền kinh tế hàng đầu khu vực như Trung Quốc hay Hàn Quốc, có thể thấy hành trình vươn lên thành cường quốc công nghệ chưa bao giờ là kết quả của sự may mắn hay các quy luật thị trường tự phát. Soi chiếu thực tiễn đó vào bối cảnh nước ta đang tích cực triển khai Quyết định số 1493/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhiều bài học lý luận và thực tiễn sâu sắc đã được gợi mở, đòi hỏi một sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy chỉ đạo lẫn tổ chức thực hiện.

Trước hết, cần đề cao vai trò kiến tạo của Nhà nước để định hình tầm nhìn chiến lược dài hạn. Công nghiệp công nghệ cao và các ngành công nghệ chiến lược vốn mang đặc thù rủi ro lớn, chi phí đầu tư khổng lồ và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Nếu chỉ dựa vào sự vận hành đơn thuần của cơ chế thị trường, nền kinh tế rất dễ rơi vào bẫy gia công với giá trị gia tăng thấp. Do đó, Nhà nước buộc phải đóng vai trò mở đường và dẫn dắt thông qua một chính sách công nghiệp chiến lược đủ tầm: lựa chọn đúng các lĩnh vực ưu tiên, dám dấn thân vào những "vùng đất khó" của công nghệ lõi, kết hợp với các cơ chế hỗ trợ đột phá cho lực lượng doanh nghiệp mũi nhọn. Đó chính là chìa khóa then chốt để xây dựng tính tự chủ và năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Song song với đó, phải coi đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và giáo dục-đào tạo là đầu tư cho tương lai quốc gia. Không một quốc gia nào có thể làm chủ công nghệ nếu thiếu đi đội ngũ nhân lực chất lượng cao và năng lực R&D độc lập. Bài học quốc tế cho thấy, tỷ lệ chi cho R&D trên GDP không đơn thuần là một chỉ số kinh tế, mà còn là thước đo quyết tâm chính trị và tầm nhìn phát triển của cả một dân tộc. Để bứt phá trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần tập trung nguồn lực nuôi dưỡng nhân tài, đổi mới căn bản chương trình đào tạo kỹ thuật-công nghệ; đồng thời tạo cơ chế vượt trội nhằm thu hút các chuyên gia, Tổng công trình sư hàng đầu trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán lớn của đất nước.

Đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng R&D và ươm mầm nhân tài công nghệ là con đường cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng tự cường dân tộc. (Ảnh Mai Huyên-Hải Linh)

Đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng R&D và ươm mầm nhân tài công nghệ là con đường cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng tự cường dân tộc. (Ảnh Mai Huyên-Hải Linh)

Mặt khác, việc vận hành hiệu quả mô hình liên kết "Ba nhà" là điều kiện tiên quyết để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Sức mạnh của một nền công nghệ không nằm ở các "ốc đảo" nghiên cứu riêng lẻ, mà ở sự kết nối hữu cơ trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Mối liên kết giữa "Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện/Trường" phải được nâng tầm thành quan hệ đối tác chiến lược sinh tử: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, chủ động đặt hàng và bảo đảm thị trường đầu ra; các Viện, Trường là "máy đẻ" sinh ra tri thức và nguồn nhân lực trình độ cao; và đặc biệt, Doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, đóng vai trò hạt nhân thương mại hóa để đưa các sản phẩm công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, để những định hướng chiến lược ấy thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh tại mỗi đơn vị, vai trò hạt nhân lãnh đạo của đảng bộ và tính tiên phong của từng đảng viên giữ vị trí quyết định.

Thực tiễn đã chứng minh, chính sự lãnh đạo sát sao, bản lĩnh của các cấp ủy Đảng tại doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ là "kim chỉ nam" biến các mục tiêu của Quyết định 1493/QĐ-TTg thành chương trình hành động cụ thể, sát với thực tiễn sản xuất-kinh doanh. Đảng bộ phải là chỗ dựa chính trị vững chắc, lan tỏa tinh thần "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm", tiếp thêm tự tin cho doanh nghiệp dấn thân vào các khâu R&D rủi ro cao. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên trên từng vị trí công tác - từ nhà quản lý, kỹ sư nghiên cứu đến người thợ trên dây chuyền - phải thực sự là những hạt nhân đi đầu về tư duy đổi mới, nỗ lực làm chủ tri thức và truyền cảm hứng sáng tạo cho toàn thể người lao động.

Việc triển khai Quyết định 1493/QĐ-TTg không chỉ dừng lại ở một chương trình khoa học-công nghệ thông thường, mà thực chất là giao sứ mệnh lịch sử cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Khi chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ được "nâng tầm" bằng năng lực lãnh đạo toàn diện của các tổ chức Đảng cơ sở, cùng sự tiên phong gánh vác của từng đảng viên, chúng ta hoàn toàn có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa khát vọng tự cường, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

MAI HUYÊN-THU HƯỜNG-HẢI LINH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/vai-tro-cua-dang-bo-dang-vien-tien-phong-lam-chu-cong-nghe-chien-luoc-post980411.html